Thư cho con

By Đoàn Ngọc Bân

                         ......... ngày ... tháng ... năm ...

                                   Con yêu dấu!

Con hỏi ba điển tích :"Giấc mộng kê vàng" hở? Lúc nhỏ ba có nghe nội con kể ba cũng còn nhớ chút ít giờ kể lại cho con nghe nhé.

Chuyện rằng:

Đời Đường có một nho sinh họ Lữ lên kinh ứng thí nhưng không may bị trượt. Trở về dọc đường vừa buồn vừa đói lại hết tiền lỡ đường vào một ngôi chùa nghỉ tạm qua đêm và xin một bữa ăn cho đỡ lòng. Chùa nghèo nhà sư nấu kê thay gạo đãi khách.

Quá mệt mỏi vừa đói vừa lạnh nên nằm bên bếp hơi lửa ấm áp được một lúc thì chàng ta ngủ say. Nằm mơ chàng thấy mình đã thi đỗ Trạng nguyên lại được nhà vua gả cho công chúa phong cho chàng làm phò mã và cho đi trấn nhậm một nơi. Thật là vinh quang phú quý không ai bằng. Nhưng khi đi đến nửa đường thì bỗng gặp quân cướp đổ đến đánh. Lữ chống cự không lại. Lính hộ vệ bị giết. Xe kiệu bị đập phá tan tành đồ đạt bị cướp hết. Chúng bắt được cả vợ chồng Lữ biết là quan lớn họ quyết định giết chết. Khi gươm đưa vào gần cổ...Lữ hoảng hốt kêu lên một tiếng giật mình thức dậy mới biết là chiêm bao. Mà giữa lúc ấy nồi kê cũng chưa chín.


Còn một điển tích nữa là "Giâc mộng Nam Kha" ba kể luôn cho con nghe nhé.

Đời nhà Đường Thuần Vu Phần nằm mộng thấy chàng đến trước Hòe An. Thuần được vua Hòe An cho vào bái yết. Thấy Thuần tướng mạo khôi ngô nên gả con gái cho làm phò mã và đưa ra quận Nam Kha làm quan Thái Thú cai trị cả một vùng to lớn.

Đang lúc vợ chồng sống một cuộc đời vương giả   sung sướng thì bỗng có giặc kéo đến vây quận Nam Kha. Thuần đem quân chống cự. Giặc đông mạnh Thuần thua chạy. Quân giặc vây thành đánh phá. Công chúa nước Hòe An vợ của Thuần bị chết trong loạn quân.

Thuần Vu Phần đem tàn quân về kinh đô tâu lại vua cha. Nhà vua nghi kỵ Thuần đã đầu hàng giặc nên tước hết phẩm hàm đuổi về làm thường dân. Thuần vừa oan ức vừa tủi nhục khóc lóc bi thương.....Vừa lúc ấy thì Thuần chợt tỉnh dậy thấy mình nằm dưới gốc cây hòe trên đầu một nhánh cây hòe chĩa về phía Nam. Cạnh Thuận lại có một ổ kiến lớn. Bầy kiến kéo hàng đàn hàng lũ trèo lên cây hòe.


Con yêu dấu cái cuộc sống của thế hệ của con ngày ngay đang đi theo cái thực dụng nhưng cái gọi là bi quan yếm thế cái lạc hậu của thế hệ đi trước nó cũng có lắm điều quý giá nó được đúc kết từ những kinh nghiệm sống và đôi khi nó phải trả một cái giá hơi đắt là cả một đời người ấy con ạ.

Ba dừng bút chúc con vui tròn giấc ngủ.

                                                                  Ba

More...

Chuyện đời thường

By Đoàn Ngọc Bân

 

CHỒNG

Gặp lại mấy đứa bạn cũ rủ nhau đi nhậu vui quá quên mất thời gian. Về nhiều nỗi lo cả nhà chờ cơm chiều chắc là bị chị vợ cằn nhằn trách móc và cả một bài luân lý giáo khoa thư nữa chứ.
Về nhà con reo lên ba về vợ chạy ra dựng xe dìu vào nhà; con đi làm nước chanh vợ lấy khăn cho chồng rửa ráy.
Trên bàn ăn mâm cơm vẫn còn nguyên hối lỗi chồng nhẹ nhàng bảo vợ dọn cơm ăn dù bụng đã quá no nhưng vẫn ăn ngon lành ăn vì gia đình ăn vì hạnh phúc.
Ăn xong vợ sửa soạn chăn màn hối chồng đi nghỉ vì biết chồng mình đã say.
Hai vợ chồng nhìn nhau tủm tỉm cười lòng thầm bảo: anh cảm ơn em.

VỢ
Kỷ niệm 20 năm ngày cưới hai vợ chồng bảo nhau đi chợ mua cái gì ngon ngon về cả nhà ăn uống một bữa. Vợ xách giỏ đi chợ.
Chồng quét nhà lau bàn ghế thật sạch còn hái một ít hoa vào cắm trong bình nữa chứ. Chờ đợi.
Ra chợ loay hoay chen lấn chọn đồ để mua bị ăn cắp móc túi lấy hết tiền. Thẩn thờ bực tức và cũng đã không còn tiền đành mua ít đồ đạm bạc để cho có bữa ăn.
Về bực tức lo sợ chắc là bị lão chồng cho một trận nên thân đây đồ đàn bà gì mà hư hỏng v.v...
Chồng nghe chuyện an ủi cười động viên thất tài thì thoát tai vậy.
Cùng nhau nhóm bếp nấu ăn một bữa ăn thật ngon ngon vì tình chồng nghĩa vợ.
Hai vợ chồng nhìn nhau tủm tỉm cười lòng thầm bảo: em cảm ơn anh.

CON
Chiều đi chăn bò về cầm trên tay cây mía. Ba hỏi ở đâu có con bảo bẻ ở đám mía nhà bác Bảy. ba hỏi đã xin chưa con bảo chưa.
Ăn cơm xong ba dắt con qua nhà bác Bảy. Sau hồi chuyện vãn thăm hỏi nhau ba liền đứng dậy xin lỗi việc con mình đã bẻ mía trộm kéo con lại vòng tay thưa xin lỗi và hứa sẽ không tái phạm.
Ra về bác Bảy cho cây mía nhưng cả hai cha con đều cương quyết không nhận.
Ba đưa con đi ăn chè ly chè hôm nay sao mà ngon và ngọt quá.
Ít hôm sau cả nhà được ăn một bữa mía no nê. Mía của bác Bảy mang qua nhà cho cháu.
Cả nhà nhìn nhau tủm tỉm cười.


More...

Thư cho con

By Đoàn Ngọc Bân

                    ..... ngày...tháng ...năm ...
                      Con thân yêu!
Lúc ba còn đi học ba đã đọc chuyện ngụ ngôn "Thỏ và Rùa" lúc ấy ba rất thích con cũng đã đọc rồi phải không? Và ba nghĩ là chắc rất nhiều người đọc chuyện ấy. Giờ ba kể lại chuyện ấy cho con nghe lại lần nữa nhé

Chuyện là:
Ngày xửa ngày xưa có một con Rùa và một con Thỏ cãi nhau: xem ai nhanh hơn. Không sao giải quyết được hai bên quyết định bằng một cuộc thi chạy đua. Thế là cuộc đua được bắt đầu.

Thỏ xuất phát rất nhanh chạy nhanh như tên bắn và sau một hồi Thỏ thấy rằng mình đã bỏ khá xa bạn Rùa yên tâm là Rùa không sao đuổi kịp. Đến gần một bãi cỏ non Thỏ ung dung dạo chơi gặm cỏ sau một hồi no nê Thỏ nằm nghỉ dưới một tán cây và ngủ thiếp đi từ lúc nào không biết. Rùa từ từ vượt qua Thỏ và đã sớm về đến đích kết thúc cuộc đua và dành thắng lợi. Sau giấc ngủ ngon lành Thỏ giựt mình tỉnh giấc và nhận ra rằng Rùa đã về đích trước và nó đã bị thua.
Con thân yêu! chậm như Rùa nhưng chắc và kiên nhẫn thì chiến thắng cũng đến được với mình vậy.

Giờ ba kể tiếp cho con nghe chuyện  Thỏ và Rùa nữa nhé!
Sau lần thua thảm bại Thỏ vô cùng thất vọng vì đã để thua và nó đã nhận ra rằng đã thua chỉ vì quá tự tin bất cẩn và thiếu kỷ luật. Nếu không chủ quan xem mọi thứ quá dễ dàng và chắc thắng thì Rùa không thể nào hạ được. Vì thế Thỏ tìm đến Rùa và thách đấu lần nữa. Rùa đã đồng ý.
Lần này Thỏ chạy với tất cả sức lực không nghỉ không dạo chơi và chạy suốt một mạch về đến đích. Nó đã bỏ xa chú Rùa còn ở tận đâu đâu.
Con thân yêu!  nhanh và hoạt bát của chú Thỏ sẽ chiến thắng cái chậm và kiên nhẫn của chú Rùa đó cũng là quy luật vậy. Chậm và chắc là điều tốt nhưng nhanh và tin tưởng là điều tốt hơn.


Nhưng câu chuyện cũng không dừng lại ở đây.
Rùa đã suy ngẫm kết quả và nhận ra rằng: nó không thể nào thắng được Thỏ trên đường đua vừa rồi được. Sau mấy ngày tính kế Rùa tìm đến Thỏ lại thách thức cuộc đua nữa nhưng có thay đổi đôi chút  về đường đua. Thỏ chủ quan không hiểu được mưu kế của Rùa và Thỏ ta đã đồng ý.
Cuộc đua lại bắt đầu. Như đã tự nhủ với lòng là phải luôn nhanh Thỏ bắt đầu chạy với tốc độ cao nhất chạy miết nhưng Thỏ phải dừng lại vì trước mặt mình là một con suối và hỡi ôi! điểm về đến đích đang ở phía bên kia con suối tai ác này.
Thỏ dành ngồi chết lặng và tự hỏi không biết làm sao đây. Lúc ấy Rùa đã lúc lắc đến nơi lội xuống suối và bơi qua bờ bên kia tiếp tục chạy và kết thúc đường đua. Giành chiến thắng mỹ mãn.

Con thân yêu! Nhanh như Thỏ cũng thắng mà cũng thua; Chậm như Rùa cũng có thua và cũng có thắng nhưng điều quan trọng là cần phải biết mình biết ta biết xác định ưu thế và sau đó là biết chọn những gì phù hợp với mình.



Và câu chuyện vẫn chưa dừng lại.
Đến lúc này Thỏ và Rùa đã trở thành đôi bạn thân thiết tự suy gẫm về mình họ cùng nhau trao đổi bàn luận. Cả hai nhận ra rằng còn một cuộc đua sau cùng nữa hy vọng sẽ có kết quả hoàn hảo hơn. Vì thế chúng quyết định tổ chức một cuộc đua cuối cùng nhưng sẽ cùng chạy chung một đội.
Bắt đầu xuất phát Thỏ cõng Rùa chạy và khi đến bên bờ suối Rùa lội xuống và cõng Thỏ bơi qua bên kia bờ. Lên đến bờ Thỏ lại cõng Rùa mà chạy tiếp đưa cả hai cùng về đến đích. Và cả hai nhận ra rằng là đã về đích sớm hơn rất nhiều so với các lần đua trước đây.


Con của ba
Cả Thỏ và Rùa đều không đầu hàng hay nản chí sau thất bại. Thỏ quyết tâm làm việc hăng hơn và cố gắng nhiều hơn sau khi phải thất bại cay đắng. Rùa phải thay đổi chiến lược vì nó đã cố gắng làm việc hết sức mình. Trong cuộc sống lắm khi phải chịu đựng đối mặt với thất bại và đó cũng là lúc để tự mình cố gắng và nỗ lực nhiều hơn nữa nhưng cũng cần phải có mưu lược. Và phải tự rèn cho mình sao cho:"Thắng không kiêu bại không nản".
Và phải biết lấy chứ "NHÂN" làm đầu biết đùm bọc thương yêu nương tựa giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau về đến đích cái thành công của một đời người.

Thỏ và Rùa của ba kể đã dừng cuộc đua lần sau ba sẽ kể tiếp chuyện khác cho con nghe nhé chúc con ngủ ngon giấc.
                                  Ba


                

More...

Thành công và thất bại

By Đoàn Ngọc Bân

 

Người thành công biết chính xác những gì mình muốn tin tưởng vào khả năng của mình và sẵn sàng cống hiến hết thời gian của cuộc đời để đạt được điều đó.
Người thất bại không có mục đích cụ thể cho cuộc sống luôn tin rằng mọi thành công đều là kết quả của vận may và chỉ thật sự bắt tay vào việc khi có sự tác động từ bên ngoài.
Người thành công có khả năng ảnh hưởng đến những người xung quanh và hợp tác với họ trong thái độ thân thiện.
Người thất bại tìm thấy khuyết điểm của mình ở người khác.
Người thành công chỉ bày tỏ ý kiến về những điều mình biết và họ hoàn toàn có thể thực hiện điều đó một cách rất khôn ngoan.
Người thất bại phát biểu ý kiến về mọi vấn đề mà họ chỉ biết chút ít hoặc hoàn toàn không có một chút kiến thức gì về chúng.
Người thành công dung hoà quan hệ với tất cả mọi người mà không quan tâm đến lợi ích đạt được.
Người thất bại chỉ nuôi dưỡng quan hệ với những ai mà từ đó họ sẽ có những thứ mà họ muốn.
Người thành công luôn trau dồi kiến thức và mở rộng lòng khoan dung. Họ sống hướng đến quyền lợi chung của cộng đồng.
Người thất bại có trí tuệ hạn chế sự vị kỷ chiến thắng lòng vị tha. Vì vậy họ tách khỏi những cơ hội thuận lợi và mối quan hệ thân thiện với xã hội.
Người thành công theo kịp thời đại và xem đây là một trách nhiệm quan trọng để biết được điều gì đang diễn ra.
Người thất bại chỉ quan tâm đến bản thân với những nhu cầu trước mắt và bất chấp mọi thứ để thực hiện không cần biết đó là điều tốt hay xấu.

Vậy Thành Công hay Thất Bại không phải do một đấng cứu thế nào ban cho ta cả mà hoàn toàn phụ thuộc vào chính bản thân mình.

                                                                  Sưu tầm

More...

Con đi học

By Đoàn Ngọc Bân

 

Con vào đại học...

Ba má hàng ngày gọi điện thoại hỏi thăm đôi khi điện thoại của con bận hoặc một lý do khách quan - con không nhắc máy; dù có giận dỗi nhưng vẫn luôn gọi điện thoại hỏi thăm động viên và còn là đỡ nhớ thương nữa.

Con về chơi nhà chẳng mang được gì về làm quà nhưng lại có một danh sách dài những thứ sẽ mua sắm để mang đi. Chỉ có mấy ngày ở nhà đến ngày đi đã thấy má đã mua hết những món con "ghi chú" bỏ vào thùng đóng gói niêm phong cẩn thận.

Con quay lại trường khệ nệ nào là những thùng những hộp. Mở ra thật ngạc nhiên khi có rất nhiều thứ không hề có trong bảng "phong thần" của con đã ghi. Nào kem đánh răng thuốc uống đường sữa và có cả những đồ dành cho phụ nữ chúng con... Mở từng món quà mà đôi mắt cứ rưng rưng muốn khóc. Ba  má không gói đồ cho con ba má đã gói tình thương của cha mẹ.

Má gọi điện hỏi đã ăn chưa? ba gọi hỏi còn tiền hay không? Còn dặn bảo cứ ăn uống cho đủ sức để học ở nhà dù phải ráng nhưng cũng đủ cho con ăn học vậy.


Hàng ngày con thấy có lỗi hoặc mang ơn rất nhiều người thầy cô bạn bè ... con đã nhiều lần "xin lỗi hoặc cảm ơn" họ nhưng nhớ ra con chỉ biết nũng nịu vòi vĩnh chứ chưa bao giờ con nói với má với ba. Nhưng mỗi bước con đi những nẻo đường con đến sẽ có nghĩa lý gì nếu như không có ba có má của con.

Có phải khi lớn lên thì mới thật hiểu được "tấm lòng" của đấng sinh thành. Ba là bóng che má là con nước tưới mát cho cả cuộc đời của con trẻ.

More...

Thư cho con

By Đoàn Ngọc Bân

                 .... ngày...tháng ....năm ....                                       

                                Con yêu dấu
Con buồn vui với sự khen chê ư và đôi lúc con sẽ không còn tự làm chủ bản thân mình được nữa. Cuộc sống là như vậy riêng con con hỏi ba "Phải như thế nào?". Giờ ba kể cho con nghe câu chuyện này nhé.
   
Chuyện kể rằng: 

Ngày xưa có một họa sĩ tên là Ranga một người siêu việt vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng đều khen ngợi.

Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa học. Ông nói:
"Một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó".
Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá ước định của ông và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự thái độ với cuộc sống của học trò.

Trong một số lượng lớn học trò Rajeev là một người có tài nhất chăm chỉ sáng tạo nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.

Một ngày kia sau bao nhiêu cố gắng Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:
- Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp phải khen ngợi.

Rajeev làm việc ngày đêm trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:
- Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng. Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó.

Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.

Sau hai ngày Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.

Hai ngày sau khi lấy tranh về Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:
- Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách nhiệm hay nghiêm túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa vì họ sợ bộc lộ hiểu biết- những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên những thứ mà con phải vất vả để làm ra được đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.

Giờ thì con biết phải như thế nào rồi phải không con? Chúc con đêm nay ngủ ngon giấc. Mai ba sẽ kể chuyện tiếp cho con nghe.

                                                                     Ba

More...

Sự tích ĐỨC PHẬT DI LẶC

By Đoàn Ngọc Bân

 

SỰ TÍCH ĐỨC DI LẶC BỒ TÁT


Đức Di Lặc là một vị Phật thứ năm trong Hiền kiếp (Bốn vị Phật trong Hiền kiếp đã ra đời kể ra sau đây: 1. Đức Cấu Lưu Tôn 2. Đức Câu Na Hàm 3. Đức Ca Diếp 4. Đức Thích Ca Mâu Ni) để nối ngôi Phật Thích Ca ra đời mà giáo hóa chúng sanh.

Nhưng số kiếp chưa đến Ngài còn ở trên cung Trời Đâu Suất thường hay hóa thân trong mười phương thế giới mà thuyết pháp độ sanh.

Khi Ngài ứng tích tại Song Lâm thì tên của Ngài là: Phó Đại Sĩ và lúc Ngài hóa thân ở Nhạc lâm thì hiệu của Ngài là: Bố Đại Hòa Thượng.

Công việc hành tàng bước đường lai khứ trong hai khoảng chuyển sanh ấy nào là lời phương tiện quyền xảo nào là lời vi diệu pháp âm làm cho người đời đều tỉnh giấc mộng mà quy đầu về Chánh giáo.

Nay xin lược thuật sự tích lúc Ngài hóa thân làm vị Bố Đại Hòa Thượng ra sau đây cho quý vị độc giả xem.

Đương thời kỳ nước Lương thuộc về đời Ngũ quí Ngài ứng tích ở nơi Châu Minh tại huyện Phụng hóa thân hình khác hơn người thế tục trán thì nhăn bụng thì lớn và hình vóc mập mạp.

Lúc đó không ai biết tên họ của Ngài chỉ thấy Ngài thường mang theo một cái túi vải mà thôi nên người kêu là: Bố Đại Hòa Thượng.

Tánh Ngài hay khôi hài và chỗ ăn và nằm ngày đêm không có nhứt định mà Ngài đi đâu rồi cũng thấy trở về Chùa Nhạc Lâm mà trú ngụ.

Mỗi khi đi đường Ngài thường cầm gậy Tích trượng và mang cái túi bằng vải không khi nào rời hai vật ấy ra khỏi mình lại có 18 đứa con nít (là lục căn lục trần và lục thức) nhỏ thường đeo đuổi theo một bên mà diễu cợt làm cho Ngài tức cười mãi mãi. Thường khi Ngài đi vào chốn thôn quê hay là nơi đồng ruộng hễ ai cho những vật gì khi Ngài ăn xong còn dư lại bao nhiêu đều bỏ vào túi.

Lúc đi tới nơi chợ quán thì Ngài ngồi xuống mở túi lấy những đồ ăn dư đưa lên kêu mấy người đứng xung quanh mà nói rằng: "Các ngươi xem coi đó là cái gì ?" Ngài nói rồi một giây lâu bỏ đồ ấy vô túi mà mang đi.
Còn có khi Ngài gặp Thầy Sa Môn đi ngang qua Ngài ở sau vỗ lưng một cái làm cho Thầy Sa Môn giựt mình ngó lại mà hỏi rằng: "Hòa Thượng làm cái gì vậy ?"
Ngài liền giơ tay nói: " Ngươi cho Ta xin một đồng tiền".
Thầy Sa Môn thấy vậy bèn nói rằng: "Nếu tôi hỏi một điều mà Hòa Thượng nói đặng thì tôi cho".
Ngài liền để cái túi xuống chấp tay đứng một bên rồi lấy túi mang trở lại mà lật đật quày quả đi liền.

Một bửa kia Ngài đi vào trong đám đông người có một ông Tăng hỏi Ngài rằng: "Hòa Thượng ở trong đám đông người làm chi đó?"
Ngài trả lời rằng: "Ta đương đợi một người đến"
Ông Tăng hỏi: "Hòa Thượng đợi ai ?"
Ngài bèn thò tay vào túi lấy một trái quít đưa cho ông Tăng.
Ông vừa giơ tay ra lấy trái quít Ngài liền thục tay lại mà nói rằng: "Ngươi chẳng phải người ấy"

Lại có một bửa ông Tăng chợt thấy Ngài đứng bên đường gần chợ bèn hỏi rằng: "Hòa Thượng ở đây làm chi ?"
Ngài liền đáp rằng: "Ta đi hóa duyên".
Ông Tăng thấy vậy mới nói rằng: "Hóa duyên ở đâu nơi ngã tư như vậy ?"
Ngài trả lời: " Ngã tư chính là chỗ Ta muốn hóa duyên".
Ông Tăng vừa muốn hỏi chuyện nữa thì Ngài liền mang cái túi vải rồi cười ngất mà đi một hơi.

Có một khi ông Bạch Lộc Hòa Thượng gặp Ngài liền hỏi rằng: " Thế nào gọi là: cái túi vải ?"
Ngài nghe hỏi liền để túi xuống rồi khoanh tay mà đứng.
Ông Bạch Lộc Hòa Thượng lại hỏi rằng: "Công việc của cái túi vải ra làm sao ?"
Ngài liền mang túi mà đi không trả lời chi hết.

Có một bửa kia ông Bảo Phước Hòa Thượng gặp Ngài hỏi rằng: "Thưa Ngài! Duyên cớ tại sao mà xưa Đức Tổ Sư ở bên Tây phương qua đây là có ý gì ?"
Ngài nghe hỏi liền để cái túi vải xuống rồi đứng tự nhiên.
Ông Bảo Phước Hòa Thượng lại hỏi nữa rằng: " Chỉ như vậy hay là còn có cái gì nữa hay không ?"
Ngài nghe hỏi như thế bèn lấy túi vải mang trở lại mà đi không hề trả lời.

Từ đó về sau hễ Ngài đi đến đâu thì người ta tranh nhau mà chận đón và níu kéo đặng mời Ngài vào nhà chớ không cho đi luôn. Bởi vậy cho nên trong các quán rượu và tiệm cơm người người tha hồ ăn uống no say không có chút gì nhàm chán vì Ngài vào đâu thì buôn bán đắt đến bội phần.

Lúc nào gặp trời mưa thì tản sáng Ngài ngủ dậy mang guốc cao gót đi ra nằm ngửa trên cái cầu to co chưn lại dựng hai bắp vế lên thì ngày ấy nắng. Còn khi nào trời nắng mà Ngài mang đôi dép cỏ đi ra ngoài đường ngày ấy trời lại mưa.

Thường bửa Ngài hay tới nhà một nông phu kia mà ăn cơm. Có một hôm người vợ tên ấy thấy vậy nổi giận mà rầy rằng: "Đương lúc lo việc ruộng nương rộn ràng không xiết mình có công đâu mà nuôi lão Hòa Thượng điên đó hoài! "
Ngài nghe nói mấy lời ấy liền đem cơm đổ dưới gốc cây dâu ở bên nhà rồi bỏ đi.
Cơm ấy tự nhiên hoàn lại trong nồi của người nông phu. Hai vợ chồng thấy vậy rất kinh bèn cùng nhau đi kiếm Ngài rồi lạy lục mà xin sám hối.

Có một khi đương buổi mùa hạ khí trời nóng nực Ngài cởi quần áo để trên bờ mà xuống khe tắm.
Lũ trẻ khuấy chơi bèn lén lại lấy cả áo quần. Đương lúc tắm Ngài thấy vậy thì lật đật để mình trần truồng mà rượt theo bọn con nít. Mấy người ở trên bờ xúm nhau lén coi thì thấy âm tàng của Ngài như trẻ nhỏ vậy.

Gần chỗ đó có tên Lục Sanh nghề vẽ rất tinh xảo. Người ấy thấy Ngài bèn vẽ một bức tượng in hệt mà dán tại Chùa nơi vách nhà Đông.
Bửa nọ Ngài đi ngang qua bên vách thấy tượng ấy liền khạc nhổ rồi bỏ đi.

Khi Ngài ở tại xứ Mân Trung có một người cư sĩ họ Trần thấy Ngài làm nhiều việc kỳ thần nên đãi Ngài rất cẩn trọng.
Lúc Ngài từ giã ông Trần cư sĩ mà đi qua xứ Lưỡng Chiết ông muốn rõ tên họ Ngài bèn hỏi rằng: "Thưa Hòa Thượng! Xin cho tôi biết họ Ngài là chi sanh năm nào tháng nào ngày nào giờ nào và xuất gia đã bao lâu rồi ?"
Ngài đáp rằng: "Ta tỏ thiệt cho ngươi rõ rằng Ta chính là họ Lý sanh ngày mùng tám tháng hai. Ta chỉ biểu hiệu cái túi vải này mà để độ đời đó thôi. Vậy ngươi chớ tiết lộ cho ai biết".
Ông Trần cư sĩ nghe nói như vậy bèn thưa rằng: "Hòa thượng đi đâu nếu có ai hỏi việc chi thì Ngài trả lời làm sao cho hợp lý chớ tùy thuận theo người thì không khỏi bàng nhơn dị nghị tiếng thị phi.

Ngài bèn đáp một bài kệ rằng:

Ghét thương phải quấy biết bao là
Xét nét lo lường giữ lấy ta;
Tâm để rỗng thông thường nhẫn nhục
bửa hằng thong thả phải tiêu ma;
Nếu người tri kỷ nên y phận
Dẫu kẻ oan gia cũng cộng hòa;
Miễn tấm lòng này không quái ngại
Tự nhiên chứng đặng "Lục ba la"

Ông Trần cư sĩ lại hỏi rằng: "Bạch Hòa thượng!
Ngài có pháp hiệu hay không ?"

Ngài liền đọc bài kệ mà đáp rằng :

Ta có cái túi vải
Rỗng rang không quái ngại;
Mở ra khắp mười phương
Thâu vào Quan tự tại.

Ông Trần cư sĩ hỏi rằng: "Hòa thượng đi đây có đem đồ hành lý hay không?"

Ngài đáp bài kệ :

Bình bát cơm ngàn nhà
Thân chơi muôn dặm xa;
Mắt xanh xem người thế
Mây trắng hỏi đường qua.

Ông Trần cư sĩ thưa: "Đệ tử rất ngu biết làm sao cho đặng thấy tánh Phật".

Ngài bèn đáp bài kệ:

Phật tức tâm tâm ấy là Phật
Mười phương thế giới là linh vật;
Tung hoành diệu dụng biết bao nhiêu
Cả thảy chẳng bằng tâm chơn thật.

Ông Trần cư sĩ thưa rằng: "Hòa thượng đi lần này nên ở nơi chùa chớ đừng ở nhà thế gian.

Ngài bèn đáp bài kệ rằng:

Ta có nhà Tam Bảo
Trong vốn không sắc tướng;
Chẳng cao cũng chẳng đê    
Không ngăn và không chướng;
Học vẫn khó làm bằng
Cầu thì không thấy dạng;
Người trí biết rõ ràng
Ngàn đời không tạo đặng;
Bốn môn bốn quả sanh
Mười phương đều cúng dường.

Ông Trần cư sĩ nghe bài kệ lấy làm lạ liền đãnh lễ Ngài mà thưa rằng: "Xin Hòa thượng ở nán lại một đêm mà dùng cơm chay với tôi đặng tỏ dấu đệ tử hết lòng cung kính xin Ngài từ bi mà hạ cố".

Đêm ấy Ngài ở lại nhà Trần cư sĩ. Đến khi đi thì Ngài viết một bài kệ dán nơi cửa:

Ta có một thân Phật
Có ai đặng tường tất;
Chẳng vẽ cũng chẳng tô
Không chạm cũng không khắc;
Chẳng có chút đất bùn
Không phải màu thể sắc;
Thợ vẽ vẽ không xong
Kẻ trộm trộm chẳng mất;
Thể tướng vốn tự nhiên
Thanh tịnh trong vặc vặc;
Tuy là có một thân
Phân đến ngàn trăm ức.

Khi Ngài đi đến quận Tứ minh Ngài thường giao du với ông Tưởng Tôn Bá một cách rất thân mật Ngài có khuyên bảo ông mỗi ngày trì niệm câu chú: "Ma ha bát nhã ba la mật đa".
Vì vậy người ta đều kêu ông Tưởng Tôn Bá là: Ma ha cư sĩ.

Có một ngày nọ ông Ma ha cư sĩ cùng Ngài đồng tắm dưới khe Trường đinh. Khi Ngài đưa lưng bảo ông Ma Ha kỳ giùm thì ông thấy nơi lưng Ngài có bốn con mắt rực rỡ chói lòa bèn lấy làm kinh dị vô cùng. Ông liền đãnh lễ Ngài mà nói rằng: "Hòa thượng quả là một vị Phật tái thế".

Ngài liền khoát tay bảo nhỏ rằng: "Ngươi chớ nói tiết lộ. Ta cùng ngươi ở với nhau đã ba bốn năm nay vốn là có nhân duyên rất lớn rồi đây Ta sẽ từ biệt ngươi mà đi vậy ngươi chớ buồn rầu thương nhớ ".

Ngài nói rồi bèn về nhà ông Ma Ha cư sĩ mà hỏi rằng: "Ý ngươi có muốn giàu sang hay không?"

Ông Ma Ha cư sĩ thưa rằng: "Sự giàu sang như lùm mây nổi như giấc chiêm bao có cái gì là bền lâu chắc chắn đâu nên tôi nguyện làm sao cho con cháu tôi đời đời được miên viễn mà thôi".

Ngài bèn lấy cái túi của Ngài thọc tay vào móc ra một cái túi nhỏ một cái hộp và một sợi dây liền đưa cho ông Ma Ha cư sĩ mà nói rằng: "Ta cho ngươi mấy vật này mà từ biệt. Song Ta căn dặn ngươi phải giữ gìn cho kỹ càng mà làm biểu tín những việc hậu vận của nhà ngươi".

Ông Ma Ha cư sĩ vâng lãnh mấy món ấy mà chẳng rõ được là ý gì. Cách vài bữa sau Ngài trở lại nhà ông mà hỏi rằng: "Nhà ngươi có hiểu được ý Ta hay không?"

 Ông thưa rằng: "Thưa Ngài! Đệ tử thiệt chẳng rõ".

Ngài nói rằng: "Đó là Ta muốn con cháu nhà ngươi ngày sau cũng như mấy vật của Ta cho đó vậy".
Nói rồi Ngài bèn từ giã mà đi liền.

Đến sau quả nhiên con cháu của ông Ma Ha cư sĩ được vinh hoa phú quý hưởng lộc nước đời đời. Đó là mấy vật của Ngài cho có hiệu nghiệm như vậy.

Nhằm ngày mùng ba tháng ba năm thứ ba niên hiệu Trịnh Minh Ngài không tật bệnh gì cả ngồi trên bàn thạch gần nơi mái chùa Nhạc Lâm mà nhập diệt.

Nhắc lại khi Ngài chưa nhập diệt có ông Trấn Đình Trưởng thấy Ngài hay khôi hài không lo sự gì cả nên mỗi lần gặp Ngài thì buông lời cấu nhục rồi giựt cái túi vải mà đốt.

Hễ bửa nay đốt rồi thì qua ngày sau ông Trấn Đình Trưởng cũng thấy Ngài mang cái túi ấy như cũ. Ông nổi giận đốt cháy rụi luôn đến ba lần cũng vẫn thấy Ngài còn mang còn mang cái túi vải đó.

Từ đó về sau ông Trấn Đình Trưởng lấy làm lạ nên đem lòng khâm phục Ngài không dám khinh dễ nữa.

Khi Ngài nhập diệt thì ông Trấn Đình Trưởng lo mua quan quách mà tẩn liệm thi hài là cố ý chuộc tội lỗi của ông ngày trước. Nhưng đến chừng đi chôn thì người khiêng rất đông mà cứ cái quan tài lên không nổi.

Trong bọn ấy có một người họ Đồng ngày thường tỏ lòng tôn kính Ngài một cách rất trọng hậu nên thấy việc linh hiển như vậy liền vội vã mua cái quan tài khác rồi liệm thi hài của Ngài lại. Đến khi khiêng đi thì số người cũng bấy nhiêu đó mà khiêng nhẹ phơi phới như bông. Ai nấy thấy vậy cũng đều kinh sợ và cung kính.

Lúc đó các người trong quận thiết lập ra một hội rất lớn xây tháp cho Ngài ở nơi núi Phong Sơn. Núi ấy toàn là đá lởm chởm hòn cao hòn thấp trong mấy hang đá đều là chỗ di tích của Ngài còn lưu truyền lại nào là chỗ để tích trượng nào là chỗ để bình bát v.v..

Những chỗ sâu chỗ cạn chỗ lớn chỗ nhỏ hình tượng giống như cái bình bát đều có nước đầy hoài dẫu cho Trời đại hạn đi nữa thì cũng chẳng có lúc nào khô kiệt.

Thiệt là nhiều việc anh linh hiển hách vô cùng!

                                                    Sưu tầm

More...

NGỌC XÁ LỢI

By Đoàn Ngọc Bân

Ngọc Xá Lợi          

Thân xác con người dù nam hay nữ lớn hoặc nhỏ lúc quá vãng sau khi thiêu xong đều để lại xương và răng không nhiều thì ít. Nhưng đó chỉ là xương thông thường mà không đổi màu chỉ một màu trắng chứ không có màu sắc nào khác. Riêng về ngọc xá lợi chỉ có người tu giữ giới nghiêm tịnh mới có mà qua đó trong Kinh Tạng thường nhắc đến xá lợi xương răng và xá lợi ngọc của Phật là phần di thể của Ngài sau khi trà tỳ còn lại. Nói một cách khác Ngọc xá lợi là thành quả của những năm tháng tu hành giữ giới luật nghiêm minh và công năng tu tập thiền quán cao thâm của những bậc tu hành. Xá lợi có thể chia thành hai loại:

- Thân xá lợi và
- Pháp xá lợi.

A- Thân Xá Lợi:

Là những gì liên quan đến đồ dùng pháp khí hoặc nhục thân của Phật Bồ Tát A La Hán hoặc các vị cao tăng đại đức chứng đạo. Trong Kinh Tạng có nhắc đến Xá Lợi khi nói về những phần như tóc móng tay răng xương và ngọc xá lợi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Kinh Đại Bát Niết Bàn diễn tả rằng Đức Phật đã lưu rất nhiều xá lợi gồm có:
- Răng & Xương xá lợi
- Ngọc xá lợi
- Toàn thân xá lợi

1- Răng & Xương Xá Lợi:
Như đã đề cập răng và xương là hai phần rắn chắc nhất của cơ thể còn lại sau khi trà tỳ. Trong số các xá lợi xá lợi răng đặc biệt là đôi răng nanh được xem là quý giá nhất đẹp nhất và sáng nhất. Cũng theo Kinh Đại Bát Niết Bàn ghi lại Vua Trời Đế Thích cầu thỉnh Đức Phật trước khi nhật diệt khi nào nhật lưu xá lợi xin cho Ngài một chiếc răng nanh sau khi lễ trà tỳ để ông ta đem về thờ tại điện phạm thiên.
 
Liên quan đến việc tôn thờ xá lợi tại Tích Lan có một ngôi tháp nổi tiếng nhất hiện nay đang thờ xá lợi răng không phải răng thường mà là răng nanh của Đức Phật do hoàng tử Mahinda con của Vua A Dục đem tặng. Xá lợi răng nầy hiện nay được coi là quốc bảo của Tích Lan. Do vậy mà ngày xưa là các vị vua và ngày nay là các vị Tổng Thống của Tích Lan mỗi lần nhậm chức đều phải đến lễ Xá Lợi Răng nầy.  
Bên cạnh Tích Lan tại Trung Quốc ở Bắc Kinh Chùa Linh Quang cũng có thờ Xá Lợi Răng của Phật gọi là Nha Xá Lợi hiện nay được xem là quốc bảo và ở Huyện Bảo Kê thuộc ngoài thành thành phố Bảo Kê cách thành phố Tây An tức là Trường An khoảng 300km Chùa Pháp Môn có thờ xá lợi xương đốt lóng tay của Đức Phật gọi là Ngọc Chỉ Xá Lợi. Tất cả các ngôi Chùa ở Trung Quốc chỉ có Chùa Linh Quang và Chùa Pháp Môn có xá lợi xương răng và đốt lóng tay của Đức Phật còn các ngôi Chùa khác thì thờ ngọc xá lợi.


2- Ngọc Xá Lợi:

Ngọc Xá Lợi là phần tủy kết tinh lại thành những viên ngọc có hình thể tròn và cứng hình dạng lớn nhỏ khác nhau. Có viên lớn như hạt bắp có viên lớn như hạt đậu có viên như hạt mè hạt cát ... Ngọc xá lợi có nhiều màu sắc và sáng đục khác nhau. Thông thường xá lợi có từ ba đến năm màu chính đó là:
- Trắng đỏ hồng xanh và vàng
Trong các màu có thứ trong như thủy tinh có thứ trắng ngà như hạt gạo có thứ phát ra ánh sáng nhẹ nhàng như pha lê cũng có thứ màu sắc tươi nhuận như san hô ... Cũng liên quan đến việc tôn thờ xá lợi trong kinh Đại Bát Niết Bàn cũng diễn tả rằng:
- Sau khi lễ trà tỳ Xá Lợi của Đức Phật được chia làm tám phần cho đại diện tám nước đem về thờ tại tám bảo tháp tại kinh đô của tám nước.
Sử ghi rằng sau đó trên hai trăm năm sau khi đức Phật nhập niết bàn hoàng đế A Dục thống nhất toàn cõi Ấn Độ và trở thành vị vua phật tử hộ đạo vì muốn làm lợi ích và truyền bá chánh pháp rộng rãi nên Vua A Dục đã ra lệnh gom tất cả Xá Lợi của Phật đã được thờ tại tám quốc gia trước đây lại và chia thành 84 000 phần tôn thờ trong 84 000 ngôi tháp báu nhỏ và ban bố đi khắp các nơi trong và ngoài nước Ấn Độ. Trong số những tháp được vua A Dục gởi đi có ba tháp hiện thờ tại Trung Quốc đó là:
- Bạch Tháp ở Ngũ Đài Sơn tỉnh Sơn Tây
- Một ngôi tháp tại Chùa A Dục Vương thuộc Ninh Ba tỉnh Triết Giang.
- Tháp còn lại thờ tại Chùa Lục Dung tỉnh Quảng Châu.
Tương truyền ngọc xá lợi của Phật có thể biến hoá từ ít thành nhiều từ nhỏ thành lớn từ đục thành trong và toả sáng hào quang. Sự biến hóa kỳ diệu nầy phải do tâm chí thành lễ bái của người có tâm đạo. Tuy nhiên nếu thờ mà không chuyên tâm lễ bái thì xá lợi sẽ biến mất. Có lẽ đây là lý do giải thích tại sao các nước Phật Giáo Nam Tông có xá lợi nhiều như:
- Tích Lan Thái Lan Lào Miến Điện ...
Đặc biệt là Miến điện có đến 10 000 bảo tháp thờ ngọc xá lợi. 
Như đã đề cập xá lợi răng và xương của Phật còn lại rất ít vì không biến hóa ít thành nhiều do vậy bảp tháp thờ răng và xương rất hiếm. Riêng tháp thờ ngọc xá lợi thì rất nhiều. Tại Việt Nam Phật Giáo Việt Nam trước năm 1975 chỉ có một số chùa thờ xá lợi Phật điển hình là Chùa Xá Lợi tại Sài Gòn. Viên ngọc Xá lợi thờ tại Chùa Xá Lợi Sài Gòn do Giáo Hội Phật Giáo Tích Lan cúng dường vào đầu năm 1960. Tuy nhiên sau năm 1975 cho đến ngày nay có lẽ tại Việt Nam cũng có khá nhiều chùa có xá lợi Phật.


3- Toàn Thân Xá Lợi:

Nói về toàn thân xá lợi là chỉ cho nhục thân bất hoại hoặc chân thân bất hoại của các vị cao tăng đắc đạo để lại. Theo các nhà Phật Học Trung Hoa giải thích rằng nhục thân của các vị tăng được hoả táng thì sẽ để lại xá lợi răng xương và ngọc. Lọai xá lợi nầy gọi là Toái Thân Xá Lợi. Toái nghĩa là vở từng mảnh nhỏ chỉ cho răng rời từng chiếc xương vở từng mảnh và tủy kết thành từng viên nhỏ. Còn nếu các vị cao tăng sau khi mất để lại nhục thân bất hoại thì gọi là Toàn Thân Xá Lợi vì hình hài không hư nát và giữ được với thời gian. Tuy thế nhục thân bất hoại của một số vị bị nhỏ theo thời gian.
Thân bất hoại của cá vị thiền sư đôi lúc được giát vàng lá hoặc tô một lớp dầu sơn mài đặc biệt ở bên ngoài. Theo Cao Tăng Truyện thì khi mới viên tịch thân thể các vị Thánh Tăng nầy tỏa ra hương thơm đặc biệt lâu ngày mới tan. Nhục thân nầy không bị thối nát theo thời gian đây là nét đặc thù của Phật Giáo Trung Hoa và Việt Nam.

a- Tại Trung Quốc
Tại Trung Quốc hiện nay có trên 10 nhục thân bất hoại của các vị thánh tăng trong số đó tiêu biểu như là:
- Lục Tổ Huệ Năng
- Thiền Sư Đan Điền
- Thiền Sư Hám Sơn ...

b- Tại Việt Nam
Tại Việt Nam cũng có các vị thiền sư để lại nhục thân bất hoại như Ngài:
- Chuyết Công Thiền Sư là người Trung Hoa là vị tổ truyền thừa phái Lâm Tế ở đàng ngoài và nhục thân của Ngài thờ tại Chùa Phật Tích Bắc Ninh.
- Ngài Đạo Chân(Vũ Khắc Minh)
- Ngài Đạo Tâm(Vũ Khắc Trường)
Hai vị thiền sư nầy vốn là hai thầy trò mà cũng là hai chú cháu để lại hai nhục thân bất hoại tại Chùa Thành Đạo mà người Điạ phương gọi là Chùa Đậu ở huyện Thường Tích cách Hà Nội 23 Km.

B- Pháp Xá Lợi


1- Tâm Đại Nguyện Xá Lợi:
Ngoài hai loại xá lợi toái thân xá lợi và nhục thân xá lợi còn có một loại xá lợi đặc thù khác tạm gọi là: Tâm Đại Nguyện Xá Lợi. Loại xá lợi nầy là một bộ phận trong thể của các vị thánh tăng để lại làm chứng cho lời đại nguyện của các ngài. Loại xá lợi nầy hiện có tại Việt Nam mà qua đó trái tim bất diệt của Hòa Thượng Quảng Đức là một thí dụ cụ thể. Tại Trung Quốc cũng có Ngài Cưu Ma La Thập Thánh Tăng(344-413) dịch giả hàng đầu đã để lại cho đời xá lợi lưỡi để chứng minh lời dịch của Ngài là chơn thật.

2- Thơ Văn Xá Lợi:
Một đặc thù khác của Pháp Xá Lợi là nhiều vị thiền sư không để lại nhục thân bất hoại vì xác thân của ngài nhập tháp. Khi đã nhập tháp có nghĩa là không trà tỳ mà đã không trà tỳ thì không để lại Toái Thân Xá Lợi. Đối với thiền tôn các nhà nghiên cứu học Phật giải thích rằng các bài thơ chứng đạo thị tịch hoặc các hiện tượng lạ trước khi vị tăng hoặc ni qua đời là bằng chứng cho thành quả tu hành mà qua đó bài thơ thị tịch của Mãn Giác Thiền Sư là một thí dụ:

- Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vi xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch là:

- Xuân đã qua thời tiết đổi thay
Trăm hoa tàn úa rụng rơi đầy
Định luật tuần hoàn luân lưu mãi
Rồi lại xuân về trăm hoa khai
Kiếp người ngắn ngủi với thời gian
Trẻ đi già đến thật ngỡ ngàng
Đường tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua mai nở trước hành lang.

Và của Ngài Vạn Hạnh Thiền Sư

- Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô uý thí
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

 Nghĩa là:

- Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xanh tươi Thu nãi nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Giống như ngọn cỏ giọt sương Đông.

Như trên là chúng ta đã biết qua những loại và giá trị của xá lợi do vậy có thể nói ai là người có phước duyên mới được nghe và được thấy xá lợi.
                                         Sưu tầm

More...

Thư gởi cho con

By Đoàn Ngọc Bân

                .... ngày ... tháng ... năm ...
                            Con yêu dấu!

Những tự ái tự ti trong mỗi một con người tự nó đã có. Tự hào hay xấu hổ là tự ở chính mình. 
Giờ ba kể cho con nghe chuyện này nhé.

Một cậu bé mang giấy mời họp phụ huynh học sinh đầu năm học về đưa cho mẹ. Điều cậu bé sợ đã thành sự thật mẹ cậu bé đã nhận lời.
Đây là lần đầu tiên giáo viên chủ nhiệm và bạn bè của cậu bé gặp mặt mẹ của mình.
Và cậu rất xấu hổ về vẻ bề ngoài của mẹ mình mặc dù bà cũng là một phụ nữ đẹp duy chỉ có một vết sẹo lớn che gần toàn bộ mặt bên phải của bà. Và cậu bé không bao giờ muốn hỏi mẹ mình là tạo sao bị vết sẹo lớn vậy.
Vào buổi họp mặt mọi người có ấn tượng rất đẹp về sự dịu dàng và nét đẹp tự nhiên của bà mẹ mặc cho vết sẹo đập vào mắt nhưng cậu bé vẫn xấu hổ và giấu mình vào một góc tránh mặt mọi người.
Ở đó cậu bé được nghe mẹ mình nói chuyện với cô giáo.- Làm sao chị bị vết sẹo như vậy trên mặt? Cô giáo của cậu hỏi
Người mẹ trả lời:
- Năm ấy khi con tôi còn bé nó đang ở trong phòng; nhà của tôi bị cháy lửa bốc lên mọi người không dám vào vì lửa đã bốc cháy lên quá cao và thế là tôi chạy vào. Khi tôi chạy đén chỗ nó thì một xà nhà rơi xuống mình nó và tôi vội vàng lấy mình che nó. Tôi bị đánh ngất xỉu nhưng thật là may mắn là mọi người cũng đã vào cứu được hai mẹ con tôi.
Người mẹ chạm vào vết sẹo nhăn nhúm trên mặt và nói:" Vết sẹo này đã chữa không được nữa nhưng cho tới ngày hôm nay tôi chưa hề hối tiếc việc mình đã làm".
Đến đây cậu bé ra khỏi chỗ nấp chạy về phía mẹ mình nước mắt lưng tròng ôm chầm lấy mẹ và cảm nhận được sự hy sinh của Tình Mẫu Tử.
Kể cho con nghe mai rồi ba sẽ kể tiếp.

Chúc con ngủ ngon giấc.
                                               Thương con nhiều
                                                      Ba

More...

Thư gởi cho con

By Đoàn Ngọc Bân

                           .. ngày .... tháng ... năm..
                                    
  Con yêu dấu!
Khi con chập chững bước vào cuộc đời con đã bắt đầu thoát khỏi vòng tay của Ba Mẹ. Cánh chim non chập chững vỗ cánh bay biết bao điều con sẽ thắc mắc và sẽ hỏi "Tại sao?".
Con yêu dấu!
Xưa lúc ba còn bé xíu bà Nội của con thường kể chuyện đời xưa cho ba nghe những tưởng rằng: nghe cho vui; nhưng không đó là những bài học để khi ba vào đời vì có những việc đã xảy ra trong đời ba như những câu chuyện bà đã kể.
    
Giờ thì ba cũng kể chuyện cho con nghe nhé.
Chuyện kể rằng: Có hai người bạn thân cùng bị lạc đường trong một sa mạc. Họ cứ đi đi mãi và đến lúc bắt đầu mỏi mệt đói khát và sợ hãi họ bắt đầu tranh cãi xem đi hướng nào để thoát ra. Không kiềm chế được sự bực tức và tuyệt vọng một người đã tát vào mặt người kia. Người bị đánh rất đau nhưng không nói gì chỉ viết một dòng trên cát:"Hôm nay người bạn thân nhất đã tát tôi".
Họ lại tiếp tục đi và đến được một ốc đảo có một hồ nước lớn. Người bạn bị đánh vì vội uống nước và tắm rửa nên đã bị trượt chân và đang chìm dần. Người bạn kia vội nhảy xuống cứu anh ta lên. Khi mọi việc đã qua người bạn bị đánh lúc trước lại khắc một dòng chữ trên phiến đá:"Hôm nay người bạn thân nhất đã cứu tôi".
Người bạn đã đánh và đã cứu thật sự ngạc nhiên nên hỏi:"Tại sao khi tôi đánh cậu cậu viết lên cát còn bây giờ cậu khắc lên phiến đá".

Người bạn mỉm cười đáp:"Khi một người làm ta đau hãy viết lên cát để ngọn gió tha thứ thổi qua mang nó đi cùng. Còn khi điều tốt lành đến chúng ta hãy khắc nó trên đá như khắc kỷ niệm trong tim vậy không cơn gió nào có thể xóa đi được".

Con yêu dấu!
Ba kể chuyện cho con nghe tuy vụng về không bằng "Mẹ kể con nghe" nhưng những mong con sẽ "Học được cách viết trên cát" cho cuộc đời mình.

                                     T
hương yêu con rất nhiều
                                                      Ba

More...