Thực đơn

By Đoàn Ngọc Bân

Xưa có câu: "Họa tòng khẩu xuất bệnh tòng khẩu nhập". Sức khỏe con người đã là vốn quý phải biết nâng niu gìn giữ. Xin cung cấp một số thực đơn tham khảo.

 

THỰC ĐƠN  MỘT TUẦN

CHO NGƯỜI MẮC BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Thứ hai:

- Sáng: Cháo thịt: 1 bát (gạo: 20g + thịt: 20g + hành lá rau thơm)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát (gạo tẻ: 150g) + canh bí xanh (bí xanh: 200g) + tôm rang (tôm: 60g + dầu 5g + hành lá)

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát (gạo tẻ: 150g) + đậu phụ rán + nộm rau + nước rau muống: 1 bát (200 ml).

          Thứ ba:

- Sáng: Mì thịt bò (mì ăn liền: 1 gói + hành lá rau cải: 50g)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + canh cua mướp mồng tơi + thịt nạc rim: 40g

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát (gạo tẻ: 150g) + thịt nạc rim: 30g + dưa chuột trộn dầu giấm (dưa chuột: 300g dầu giấm tỏi rau thơm).

          Thứ tư:

- Sáng: Sữa đậu nành: 200 ml + bánh mì: 01 chiếc

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + đậu phụ kho thịt (đậu phụ: 100g thịt nạc: 20g) + canh rau cải.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá kho + rau nộm lạc vừng

          Thứ năm:

- Sáng: Cháo thịt: 1 bát (gạo: 20g + thịt: 20g + hành lá rau thơm)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát (gạo tẻ: 150g) + canh bí xanh (bí xanh: 200g) + tôm rang (tôm: 60g + dầu 5g + hành lá)

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát (gạo tẻ: 150g) + đậu phụ rán + nộm rau + nước rau muống: 1 bát (200 ml).

          Thứ sáu:

- Sáng: Mì thịt bò (mì ăn liền: 1 gói + hành lá rau cải: 50g)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + canh cua mướp mồng tơi + thịt nạc rim: 40g

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát (gạo tẻ: 150g) + thịt nạc rim: 30g + dưa chuột trộn dầu giấm (dưa chuột: 300g dầu giấm tỏi rau thơm).

          Thứ bảy:

- Sáng: Sữa đậu nành: 200 ml + bánh mì: 01 chiếc

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + đậu phụ kho thịt (đậu phụ: 100g thịt nạc: 20g) + canh rau cải.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá kho + rau nộm lạc vừng

          Chúa nhật:

- Sáng: Mì thịt bò (mì ăn liền: 1 gói + hành lá rau cải: 50g)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + canh cua mướp mồng tơi + thịt nạc rim: 40g

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát (gạo tẻ: 150g) + thịt nạc rim: 30g + dưa chuột trộn dầu giấm (dưa chuột: 300g dầu giấm tỏi rau thơm).

 


THỰC ĐƠN  MỘT TUẦN

CHO NGƯỜI MẮC BỆNH THẬN

Thứ hai:

- Sáng: Bánh mì: 01 chiếc + 01 ly sữa tươi (200 ml)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá rán dầu thực vật + rau bắp cải luộc (100g) + đậu phụ luộc (100g) chấm với nước mắm pha loãng với tỷ lệ 1/5.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + canh rau + trứng ốp la: 1 quả

          Thứ ba:

- Sáng: Cháo đậu xanh: 200 ml

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + rau cải luộc (100 g) + thịt gà luộc.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + canh rau + thịt giò (hay chả): không dùng nước chấm-

          Thứ tư:

- Sáng: Sữa đậu nành: 200 ml + bánh mì bơ

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá hấp + canh cải

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + đậu phụ rán: 200g + giá luộc

          Thứ năm:

- Sáng: Bánh mì: 01 chiếc + 01 ly sữa tươi (200 ml)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá rán dầu thực vật + rau bắp cải luộc (100g) + đậu phụ luộc (100g) chấm với nước mắm pha loãng với tỷ lệ 1/5.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + canh rau + trứng ốp la: 1 quả

          Thứ sáu:

- Sáng: Cháo đậu xanh: 200 ml

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + rau cải luộc (100 g) + thịt gà luộc.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + canh rau + thịt giò (hay chả): không dùng nước chấm     Thứ bảy:

- Sáng: Súp khoai tây + bánh mì

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá kho nạc + cải bắp luộc + nước rau luộc

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt bò kho + canh mồng tơi

          Chúa nhật:

- Sáng: Cháo đậu xanh: 200 ml

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + rau cải luộc (100 g) + thịt gà luộc.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + canh rau + thịt giò (hay chả): không dùng nước chấm

 

 

THỰC ĐƠN  MỘT TUẦN

CHO NGƯỜI MẮC BỆNH DẠ DÀY

Thứ hai:

- Sáng: Bánh mì: 01 chiếc + 01 ly sữa tươi (200 ml)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt gà rang: 100g + canh rau

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + canh rau + trứng ốp la: 1 quả

          Thứ ba:

- Sáng: Cháo thịt nạc: 01 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc kho (100g) + canh rau ngót

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá kho ngọt + canh rau cải

          Thứ tư:

- Sáng: Phở bò: 1 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá kho nạc + cải bắp luộc + nước rau luộc

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt bò kho + canh mồng tơi

          Thứ năm:

- Sáng: Bánh mì: 01 chiếc + 01 ly sữa tươi (200 ml)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá rán dầu thực vật + rau bắp cải luộc (100g) + đậu phụ luộc (100g) chấm với nước mắm pha loãng với tỷ lệ 1/5.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + canh rau + trứng ốp la: 1 quả

          Thứ sáu:

- Sáng: Cháo thịt nạc: 01 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc kho (100g) + canh rau ngót

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá kho ngọt + canh rau cải

          Thứ bảy:

- Sáng: Sữa đậu nành: 200 ml + bánh mì bơ

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá hấp + canh cải

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + đậu phụ rán: 200g + giá luộc

          Chúa nhật:

- Sáng: Cháo thịt nạc: 01 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc kho (100g) + canh rau ngót

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá kho ngọt + canh rau cải

 

 

THỰC ĐƠN  MỘT TUẦN

CHO NGƯỜI MẮC BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Thứ hai:

- Sáng: Mỳ bò (mì ăn liền: 1gói thịt bò: 30 gam rau cải: 30 gam) + sữa đậu nành không đường : 1 ly (200 ml).

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + đậu phụ sốt cà chua thịt + bắp cải luộc.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + súp khoai tây thịt bò + canh khoai.

          Thứ ba:

- Sáng: Phở: 01 bát + sữa đậu nành không đường : 1 ly (200 ml).

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá kho lạt  + canh rau ngót + cải luột.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt lợn luột + tôm rang + đỗ xào

          Thứ tư:

- Sáng: Bún thịt nạc: 1 bát + sữa đậu nàh không đường : 1 ly (200 ml).

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt heo rim + canh chua

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá chiên sốt cà chua + canh cải cúc

          Thứ năm:

- Sáng: Mỳ bò (mì ăn liền: 1gói thịt bò: 30 gam rau cải: 30 gam) + sữa đậu nàh không đường : 1 ly (200 ml).

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + đậu phụ sốt cà chua thịt + bắp cải luộc.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + súp khoai tây thịt bò + canh khoai.

          Thứ sáu:

- Sáng: Phở: 01 bát + sữa đậu nàh không đường : 1 ly (200 ml).

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá kho lạt  + canh rau ngót + cải luột.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt lợn luột + tôm rang + đỗ xào

          Thứ bảy:

- Sáng: Bún thịt nạc: 1 bát + sữa đậu nàh không đường : 1 ly (200 ml).

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt heo rim + canh chua

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá chiên sốt cà chua + canh cải cúc

          Chúa nhật:

- Sáng: Phở: 01 bát + sữa đậu nành không đường : 1 ly (200 ml).

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá kho lạt  + canh rau ngót + cải luột.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt lợn luột + tôm rang + đỗ xào

 

 

THỰC ĐƠN  MỘT TUẦN

CHO NGƯỜI MẮC BỆNH TIM

Thứ hai:

- Sáng: Bánh mì: 1 chiếc + sữa : 1 ly (200 ml)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá kho + đậu xào + canh rau cải.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + trứng kho thịt + canh khoai

          Thứ ba:

- Sáng: Cháo thịt: 1 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc rim + đỗ xào  + canh rau ngót.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá chiên sốt cà  + súp cải luộc.

          Thứ tư:

- Sáng: Phở bò: 1 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc luộc + cải bắp luộc + canh mồng tơi

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá chiên sốt cà chua +  măng xào thịt + canh cá.

          Thứ năm:

- Sáng: Bánh mì: 1 chiếc + sữa : 1 ly (200 ml)

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + cá kho + đậu xào + canh rau cải.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + trứng kho thịt + canh khoai

          Thứ sáu:

- Sáng: Cháo thịt: 1 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc rim + đỗ xào  + canh rau ngót.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá chiên sốt cà  + rau cải luộc.

          Thứ bảy:

- Sáng: Phở bò: 1 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc luộc + cải bắp luộc + canh mồng tơi

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá chiên sốt cà chua +  măng xào thịt + canh cá.

          Chúa nhật:

- Sáng: Cháo thịt: 1 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc rim + đỗ xào  + canh rau ngót.

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + cá chiên sốt cà  + súp cải luộc.

 

 

THỰC ĐƠN  MỘT TUẦN

CHO PHỤ NỮ SAU SINH

Thứ hai:

- Sáng: Cháo thịt bò băm

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc rim + canh bí xanh nấu tôm

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt gà + canh đu đủ nấu thịt

          Thứ ba:

- Sáng: Cháo thịt nạc.

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt bò kho + rau cải luộc + canh rau

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt kho trứng + canh cải nấu thịt

          Thứ tư:

- Sáng: Phở bò: 1 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt bò sốt cà chua + trứng tráng + canh mồng tơi

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + tôm rim + canh khoai nấu thịt nạc

          Thứ năm:

- Sáng: Cháo thịt bò băm

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt nạc rim + canh bí xanh nấu tôm

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt gà + canh đu đủ nấu thịt

          Thứ sáu:

- Sáng: Cháo thịt nạc.

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt bò kho + rau cải luộc + canh rau

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt kho trứng + canh cải nấu thịt

          Thứ bảy:

- Sáng: Phở bò: 1 bát

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt bò sốt cà chua + trứng tráng + canh mồng tơi

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + tôm rim + canh khoai nấu thịt nạc

          Chúa nhật:

- Sáng: Cháo thịt nạc.

- Trưa: Cơm: 2 lưng bát + thịt bò kho + rau cải luộc + canh rau

- Chiều: Cơm: 2 lưng bát + thịt kho trứng + canh cải nấu thịt

                         Sưu tầm

More...

Chuyện đời thường

By Đoàn Ngọc Bân

 

CHỒNG

Gặp lại mấy đứa bạn cũ rủ nhau đi nhậu vui quá quên mất thời gian. Về nhiều nỗi lo cả nhà chờ cơm chiều chắc là bị chị vợ cằn nhằn trách móc và cả một bài luân lý giáo khoa thư nữa chứ.
Về nhà con reo lên ba về vợ chạy ra dựng xe dìu vào nhà; con đi làm nước chanh vợ lấy khăn cho chồng rửa ráy.
Trên bàn ăn mâm cơm vẫn còn nguyên hối lỗi chồng nhẹ nhàng bảo vợ dọn cơm ăn dù bụng đã quá no nhưng vẫn ăn ngon lành ăn vì gia đình ăn vì hạnh phúc.
Ăn xong vợ sửa soạn chăn màn hối chồng đi nghỉ vì biết chồng mình đã say.
Hai vợ chồng nhìn nhau tủm tỉm cười lòng thầm bảo: anh cảm ơn em.

VỢ
Kỷ niệm 20 năm ngày cưới hai vợ chồng bảo nhau đi chợ mua cái gì ngon ngon về cả nhà ăn uống một bữa. Vợ xách giỏ đi chợ.
Chồng quét nhà lau bàn ghế thật sạch còn hái một ít hoa vào cắm trong bình nữa chứ. Chờ đợi.
Ra chợ loay hoay chen lấn chọn đồ để mua bị ăn cắp móc túi lấy hết tiền. Thẩn thờ bực tức và cũng đã không còn tiền đành mua ít đồ đạm bạc để cho có bữa ăn.
Về bực tức lo sợ chắc là bị lão chồng cho một trận nên thân đây đồ đàn bà gì mà hư hỏng v.v...
Chồng nghe chuyện an ủi cười động viên thất tài thì thoát tai vậy.
Cùng nhau nhóm bếp nấu ăn một bữa ăn thật ngon ngon vì tình chồng nghĩa vợ.
Hai vợ chồng nhìn nhau tủm tỉm cười lòng thầm bảo: em cảm ơn anh.

CON
Chiều đi chăn bò về cầm trên tay cây mía. Ba hỏi ở đâu có con bảo bẻ ở đám mía nhà bác Bảy. ba hỏi đã xin chưa con bảo chưa.
Ăn cơm xong ba dắt con qua nhà bác Bảy. Sau hồi chuyện vãn thăm hỏi nhau ba liền đứng dậy xin lỗi việc con mình đã bẻ mía trộm kéo con lại vòng tay thưa xin lỗi và hứa sẽ không tái phạm.
Ra về bác Bảy cho cây mía nhưng cả hai cha con đều cương quyết không nhận.
Ba đưa con đi ăn chè ly chè hôm nay sao mà ngon và ngọt quá.
Ít hôm sau cả nhà được ăn một bữa mía no nê. Mía của bác Bảy mang qua nhà cho cháu.
Cả nhà nhìn nhau tủm tỉm cười.


More...

Giai thoại Thầy TRANG TỬ

By Đoàn Ngọc Bân

        Trang Tử


Cuối đời nhà Chu tại ấp Mông nước Tống có một người họ Trang tên Chu tự Tử Hưu
làm quan dưới triều nhà Chu. Trang Tử thờ vị thánh Lão Đam vị thánh này trước tác bộ "Đạo Đức Kinh" và người đương thời tôn xưng là Lão Tử.

Trang Chu ngủ ngày thường nằm mộng thấy mình hóa bướm bay nhởn nhơ trong không trung bèn đem việc ấy hỏi thầy.

Ông thầy đó là một vị chân nhân thông hiểu cả vũ trụ nên nghe xong ông ta giảng giải :

- Nguyên thuở trời đất mới phân âm dương vừa định thì có một con bướm trắng hút hết tinh túy của các loài hoa đoạt khí thiên của nhật nguyệt tạo thành một nguyên tố trường sanh bất tử.

Con bướm trắng ấy một hôm lại đến cung Dao Trì hút nhụy hoa bàn đào của Tây Vương Mẫu nên bị con chim Thanh loan giữ vườn mỗ chết hồn dật dờ xuống cõi trần mà đầu thai ra ngươi đó.

Trang Chu nghe nói như tỉnh giấc chiêm bao đầu óc cởi mở quan niệm được những nét huyền diệu của vũ trụ bèn đóng cửa tu hành về sau trở thành một nhà đạo học cao siêu.

Lão Tử thấy học trò đã giác ngộ nên đem bộ học thuyết kinh năm ngàn chữ và tất cả sở đắc của đời mình truyền lại cho Trang Tử.

Trang Chu được truyền dạy gắng tu luyện nên thể nhập được lẽ biến hóa của thiên nhiên thông suốt định luật sanh khắc của ngũ hành.

Tuy theo đạo "Thanh tỉnh vô ri" nhưng Trang Chu không bỏ cái thuyết "âm dương thuần nhứt" nghĩa là vũ trụ phải có âm có dương thì loài người phải có vợ có chồng.

Trang Chu lấy ba đời vợ: người thứ nhất bị bịnh chết người thứ hai vì phạm lỗi bị bỏ người thứ ba là họ Điền.

Trang Tử sang du lịch nước Tề Điền Tôn là một người rất trọng học vấn thấy Trang Tử thông minh đem lòng yêu mến gả con gái mình cho Trang Tử. Điền thị là một nàng tuyệt thế giai nhân tuy Trang Tử không phải là người háo sắc song cũng yêu thương vợ lắm.

Thời ấy Sở vương nghe tiếng đồn Trang Tử là bậc tài danh nên cho người đến thỉnh về triều gia phong tước lộc ngõ hầu cứu dân độ thế.

Tuy nhiên là bậc tu hành Trang Tử đâu có thiết tha gì đến bả vinh hoa phú quà nên từ chối ngay và dẫn vợ về trú ngụ nơi Nam Họa Sơn thuộc địa phận Tào Châu để sống một cuộc sống an nhàn ẩn dật.

Một hôm thẩn thơ nơi sườn núi Trang Tử gặp một thiếu phụ mặc tồ đang đang ngồi cầm cây quạt quạt một nấm mồ mới đắp đất chưa ráo.

Trang Tử lấy làm lạ hỏi :

- Tại sao nàng lại ngồi quạt nấm mồ ấy làm gì thế ?

Thiếu phụ đáp :

- Chồng thiếp không may chết sớm nắm xương tàn chôn cất nơi đây. Lúc sinh tiền đang nồng duyên hương lửa chồng thiếp có dặn rằng nếu rủi ro mà chồng thiếp có mất sớm thì hãy đợi cho nấm mồ lên cỏ đã rồi hãy tái giá. Nay chồng thiếp rủi mất mà gió mưa tơi tả biết bao giờ nấm đất nầy khô để cho loài cỏ mọc lên được. Mà ba thu đằng đẵng; đêm xuân một khắc ngàn vàng tiện thiếp chờ sao được ! Vì vậy thiếp mới quạt cho đất khô để cỏ mau mọc chừng ấy dẫu thiếp có tái giá thì cũng khỏi phụ lòng người chín suối.

Trang Tử nghe dứt lời thở ra một hơi dài não nuột trách cho lòng người đời sớm bạc tình và nói :

- Nếu nương nương muốn cho đất khô ngay không khó gì cả. Kẻ bất tài này xin quạt giùm cho.

Thiếp phụ nghe nói mừng rở trao chiếc quạt the cho Trang Tử. Trang Tử vận dụng hết "bản ngã" hướng vào nấm mồ dùng phép quạt mấy cái nấm mồ tự nhiên khô ráo đồng thời cỏ xanh lấm tấm nảy chồi.

Thiếu phụ mỉm cười mặt tươi như đóa hoa buổi sáng quỳ xuống tạ ơn Trang Tử và nói:

- Tiện thiếp mang ơn tiên sinh rất trọng nơi đây biết lấy gì đền ơn. Vậy xin tặng tiên sinh chiếc quạt này.

Vừa nói thiếu phụ hai tay vừa nưng chiếc quạt lên ngang mày rồi hớn hở ra đi.

Trang Tử cầm cây quạt che ngấm nghía lòng nao nao một nỗi buồn khó tả. Cho hay sự đời chỉ là một bức màn thưa ân tình chỉ là một lớp vỏ che đậy những bản năng dục vọng kinh tởm của con người.

Về đến nhà Trang Tử vẻ mặt lạnh lùng trước khi bước vào mái hiên ngâm mấy câu :

Bất thị oan gia bất tụ đầu oan gia tương tụ kỷ thời hưu ?

Tảo tri tử hậu vô tình nghĩa Tựu bả sinh tiền ân ái câu.

Dịch :

Nếu chẳng oan gia đâu gặp nhau oan gia ràng buộc được bao lâu ?

Nếu hay lúc chết không tình nghĩa thì sống thà đừng ân ái nhau.

 Thấy mặt chồng bước vào nhà rầu rầu lại vừa ngâm thơ vừa cầm cây quạt the Điền thị ngạc nhiên hỏi :

- Tại sao chàng đi chơi về lại buồn bã như thế. Chiếc quạt kia ở đâu vậy ?

Trang Tử đem chuyện thiếu phụ quạt mồ kể lại đầu đuôi cho vợ nghe và nói thêm rằng :

- Đây là cây quạt bạc tình mà thiếu phụ ấy đã tặng cho ta.

Điền thị nghe chồng kể đầu đuôi nổi giận mắng rằng :

- Cái thứ đàn bà quỷ sứ ấy chồng chết nấm mồ chưa xanh cỏ đã toan bề ân ái thật là khốn kiếp lẽ ra thứ ấy phải giết đi rồi đem thả trôi sông để khỏi làm nhơ cho giới phụ nữ.

Trang Tử nghe vợ nói chỉ cười không đáp buồn bã ngâm tiếp mấy câu thơ :

Sinh tiền cá cá thuyết ái ân
Tử hậu nhân nhân dục phiến văn
Họa hổ họa bì nan họa cốt
Tri nhân tri diện bất tri tâm.

Dịch :

Khi sống người người khoe ân ái.
Lâm chung kẻ kẻ muốn quạt mồ.
Vẽ cọp vẽ da xương khó vẽ
Biết người biết mặt biết lòng sao ?
Điền thị nghe mấy câu thơ càng thêm cáu tiết hơi giận phừng phừng trách chồng sao lại đem những hạng đàn bà mất nết ấy mà so sánh với mình. Dễ thường tất cả đàn bà trong xã hội ai cũng thuộc vào loại đó sao ?

Trang Tử mỉm cười nói :

- Thôi đừng có làm giận làm hờn mà chi. Tôi giả thử nếu mai kia mốt nọ rủi tôi mà có bất hạnh   đi rồi liệu đóa hoa hải đường kia đang độ phơi phới hơi xuân có thể phong kín nhụy hương mà chờ quá hạng thiều quang chín chục đó không ?

Điền thị cắn môi phì cười nói :

- Nếu đã là trung thần thì không bao giờ thờ hai chúa gái tiết trinh bất sự nhị phu. Nếu bất hạnh mà chàng có rủi ro điều gì thiếp xin cam phận đến già chứ không bao giờ nghĩ đến những chuyện đê hèn như vậy.

Trang Tử nghe vợ nói cười xòa tỏ ý khó tin.

Điền thị tức giận chụp cây quạt xé nát rồi nói :

- Để làm gì cái đồ phụ bạc này nhìn thêm nhơ mắt. Chỉ có lúc chàng chết đi mới rõ bụng người đàn bà này tiết hạnh dường nào !

Trang Tử nói :

- Thôi ! nàng đừng giận dữ làm gì ! đó là ta thử lòng nàng đó thôi nếu quả nàng có lòng trinh tiết như vậy thì còn gì quý hóa bằng.

Tuy nói thế nhưng nét mặt Trang Tử từ đó vẫn không phai màu chán ngán !

Chẳng bao lâu Trang Tử lâm bịnh mỗi ngày một trầm trọng thêm. Điền thị cả ngày sùi sụt bên giường.

Một hôm Trang Tử gọi vợ đến nói :

- Bịnh tôi đã nguy ngập không thể sống được lâu rất tiếc là cây quạt mồ không còn để nàng dùng mà quạt cho nấm mồ tôi xanh cỏ để nàng sớm được tái giá cho khỏi tiếng tăm người đời dị nghị.

Điền thị vừa khóc vừa nói :

- Xin chàng cứ tịnh dưỡng chớ có buồn bã như thế mà tổn hại tinh thần. Thiếp là một người có học biết chữ "Tùng nhất chi chung" lẽ đâu lại làm được chuyện đê hèn như thế nếu chàng không tin thiếp xin tử tiết trước mặt chàng để chàng trông thấy tấm lòng chung thủy.

Trang Tử hổn hển nói :

- Lòng nàng đã như thế thì dẫu có nhắm mắt tôi cũng an lòng.

Nói xong Trang Tử tắt thở. Điền thị lăn lóc than khóc rất não nề bi ai thống thiết. Nàng mặc đồ tang lo việc khăn liệm quàng quan tài nơi giữa nhà để phúng điếu.

Qua mấy ngày Điền thị khóc sướt mướt bỏ ăn bỏ ngủ. Đến ngày thứ bảy bỗng có một chàng thư sinh mặt như dồi phấn môi tợ thoa son áo tía quần đen phong nghi tuấn tú có giắt theo một người lão bộc đến tự xưng là Vương Tôn nước Sở. Ngày trước có đính ước cùng Trang Chu theo đòi học tập nay đến nơi mới hay Trang Chu đã chết nên Vương Tôn cảm nghĩa xin vào phúng điếu.

Điền thị phải ra tiếp kiến.

Khi Vương Tôn khóc lạy linh cữu xong Điền thị mời Vương Tôn vào nhà khách để dùng trà.

Thấy một gã thư sinh trẻ đẹp như thế Điền thị thoắt động lòng tuy bên ngoài giữ lễ nhưng bên trong cũng muốn kiếm cách làm quen để tiện bề gần gũi.

Vương Tôn nói :

- Trang tiên sinh đã ra người thiên cổ nhưng lòng ngưỡng một của tôi vẫn còn. Nay tiểu tử muốn xin lưu lại nơi đây một trăm ngày trước là trọn đạo cư tang sau mượn sách vở của tiên sinh để học đòi được phần nào hay phần ấy.

Vớ được dịp may Điền thị tủm tỉm cười cung kính đáp :

- Tình nghĩa thầy trò xin Vương Tôn đừng ngại gì cả.

Nói xong nàng xuống bếp lo sửa soạn cơm nước đãi đằng rất hậu.

Thảo đường gồm có ba gian gian giữa quàng linh cữu gian bên phải Vương Tôn ở.

Điền thị đêm đêm lấy cớ đến khóc chồng nhìn ngắm Vương Tôn mắt liếc lòng mơ mối tình mỗi ngày một tha thiết. Tuy nhiên hình như có một giòng sông ngăn cách Điền thị không biết làm sao để vượt qua bờ sông ân ái; một hôm nàng đánh liều gọi người lão bộc của Vương Tôn đến hỏi :

- Chủ nhân của ông đã có vợ con chưa ?

Người lão bộc đáp :

- Thưa phu nhân chủ tôi lâu nay lo trau dồi kinh sử chưa có thì giờ để nghĩ đến việc đó.

Điền thị mỉm cười hỏi tiếp :

- Ông liệu xem những người đàn bà như thế nào mới hợp ý Vương Tôn ?

Người lão bộc nói :

- Mấy hôm nay chủ nhân tôi ước mong sao được có người nhan sắc như phu nhân mới vừa ý.

Điền thị không dè dặt nữa nói thẳng :

- Ông có thể tác thành cho hai bên chúng tôi được không ?

Người lão bộc làm ra vẻ e ngại nói :

- Điều đó chủ tôi còn gì mong ước hơn song sợ e tiếng thầy trò thiên hạ  dị nghị chăng?

Điền thị dẫn giải :

- Vương Tôn tuy trước kia có lời nguyện ước song chưa từng học với chồng tôi một

ngày nào thì sao gọi là nghĩa thầy trò ? Vậy ông là một người lão bộc trung thành tôi nhờ ông giúp đỡ nếu việc được thành công tôi sẽ trọng thưởng.

Người lão bộc tỏ ý thuận tình bước đi. Điền thị còn căn dặn theo :

- Nếu ngày nào xong việc ông nhớ tin cho tôi biết liền đi nhé !

Một ngày trôi qua thời khắc đối với Điền thị như dài dằn dặc trong lòng mơ ước không yên.

Sáng hôm sau Điền thị nóng ruột quá mới gọi lão bộc đến phòng hương hỏi chuyện.

Vừa mới gặp mặt Điền thị người lão bộc đã nói :

- Nương Tử ôi ! Công việc bất thành rồi.

Điền thị nghe nói trong mình lạnh toát mồ hôi rướm ướt áo hỏi vội :

- Sao ? Sao thế ?

Lão bộc chậm rãi đáp :

- Chủ tôi nói cũng có là. Theo người thì sắc đẹp của Nương Tử tuyệt lắm rồi tình sư đệ cũng không đáng kể duy chỉ có ba việc này thực là khó khăn lắm.

Điền thị nóng lòng hỏi :

- Việc gì ? Ông cứ nói mau đi !

- Điều thứ nhứt : Chiếc quan tài còn quàn nơi giữa nhà thây người chết chưa lạnh nếu bàn tính đến cuộc hôn nhân e bất nghĩa lắm. Điều thứ hai : Trang tiên sinh cùngNương Tử thuở nay ân ái đậm đà tình chăn gối không gì thương tổn. Vả lại Trang tiên sinh lại là một bậc tài hoa lỗi lạc còn chủ nhân tôi học mọn tài sơ e không xứng đáng với Nương Tử chăng. Điều thứ ba : chủ tôi đến đây không có mang theo tiền bạc bao nhiêu lấy gì mà lo sính lễ. Vì các lẽ đó mà công việc không thành.

Điền thị nghe xong cười nói :

- Cả ba điều ấy rất dễ giải quyết : Sau nhà còn một cái phòng trống tôi sẽ thuê người khiêng cái quan tài kia đem ra để tạm sau đó. Vong phu có gì đáng gọi là đạo đức và tài năng đâu. Trước kia đã có hai đời vợ nhưng vì dạy không được nên phải bỏ đi thiên hạ đều cho là bạc bẽo. Sau đó Sở vương hâm mộ  hư danh nên mời về làm tướng y tự biết mình bất tài nên lánh mặt nơi thôn dã sống ẩn dật nơi chốn núi non. Hôm trước đây hơn một buổi dạo chơi y có gặp một thiếu phụ quạt mồ liền giở trò trêu hoa ghẹo nguyệt đoạt cây quạt của thiếu phụ đem về đây. Tôi nổi giận xé chiếc quạt ấy ra từng mảnh. Ông coi đó ! như vậy mà còn tình nghĩa yêu đương gì nữa chứ !

Việc tiền bạc Vương Tôn nói đó cũng không khó khăn gì. Tôi là chủ rồi còn ai mà đòi sính lễ nữa. Đến như tiệc tùng thì tôi còn của cải hơn mười lượng vàng lại không đủ chi dùng sao ! Nếu Vương Tôn mà có cố tình kết tóc trăm năm với tôi thì chúng ta làm một cái lễ mọn để động phòng hoa chúc cũng đủ lắm rồi.

Nói xong Điền thị lấy vàng giao cho lão bộc đem về đưa cho Vương Tôn và hẹn đêm hôm ấy làm lễ hợp cẩn.

Tối hôm đó Điền thị được tin Vương Tôn khứng chịu một bề rất mừng rỡ mượn người khiêng chiếc quan tài của Trang Tử để ra phía nhà sau rồi thay đổi đồ tang mặc áo gấm quần hồng thắt hoa kết lá trước thảo đường muôn màu sặc sở. Sửa soạn xong Điền thị ngồi chờ Vương Tôn đến.

Mãi đến quá canh hai Vương Tôn mới qua thảo đường.  Điền thị nóng lòng như đốt đôi mắt long lanh hai má ửng hồng nhìn Vương Tôn khôi ngô tuấn tú trong chiếc áo cẩm bào màu lục. Hai người làm lễ xong men rượu hiệp cẫn nuốt chưa trôi qua nửa cổ Điền thị phút động hương tình dục Vương Tôn vào phòng nghỉ sớm... Bỗng Vương Tôn mặt mày nhăn nhó chàng lăn dưới đất la ôi ối. Không rõ việc gì Điền thị hoảng kinh đến ôm Vương Tôn vào lòng. Người lão bộc nghe tiếng chạy đến thấy vậy nói với Điền thị :

- Chủ tôi trở lại bệnh đau bụng trước kia rồi đó. Bịnh này thì không có thuốc nào chữa nổi chỉ trừ có được một vật ấy mà thôi.

Điền thị lo lắng hỏi :

-  Vật gì thế ?

Người lão bộc giải thích :

- Trước kia bình nhật cứ mỗi lần bịnh ấy phát lên thì vua nước Sở phải giết một tù nhân lấy bộ óc ngâm rượu cho Vương Tôn uống thì khỏi ngay. Nay bịnh ấy tái phát mà ở nơi chốn sơn lâm cùng cốc này tìm đâu ra được thứ đó chắc là chủ tôi phải chết mà  thôi.

Điền thị sốt ruột hỏi :

- Thế thì óc của người chết có dùng được hay không ?

Người lão bộc nói :

-  Người chết chưa quá một trăm ngày thì bộ óc vẫn dùng làm thuốc ấy được. Trước kia tôi có nghe quan Thái y nói như vậy.

Điền thị hớn hở nói :

- Vong phu chết chưa quá hai mươi ngày vậy thì ta nạy quan tài mà lấy vật ấy.

Người lão bộc làm ra vẻ ngần ngại nói :

- Chỉ sợ Nương Tử không nỡ làm như thế.

Điền thị bỉu môi nói :

- Ta cùng Vương Tôn kết nghĩa đá vàng cho đến răng long bạc đầu thân của ta còn không tiếc huống chi một nắm xương tàn kia mà ăn nhằm vào đâu.

Nói xong Điền thị gởi gắm cho người lão bộc ở lại săn sóc Vương Tôn còn mình thì chạy thẳng xuống nhà dưới tay cầm một cây búa tay nắm một con dao mò sang bên phòng có để linh cữu của chồng.

Vừa đến nơi Điền thị không cần nghĩ ngợi gì nữa cả hai tay hươi búa bổ vào quan tài mấy cái nắp quan tài bật tung ra. Bên trong nghe có tiếng rên rồi bỗng thấy Trang Tử lồm cồm ngồi dậy. Điền thị hoảng kinh đứng cứng ngắt như trời trồng hai tay rụng rời rơi lưỡi búa và con dao xuống đất.

Trang Tử nói :

- May phước nhà ta trời không nỡ để tuyệt mạng tôi chết đã hơn mười ngày mà còn sống lại được vậy thì chúng ta cùng về phòng nói chuyện cho vui.

Trang Tử đi trước Điền thị nối gót theo sau mồ hôi toát ra như tắm da mặt cắt không còn chút máu chỉ  sợ  về đến phòng gặp người lão bộc và Vương Tôn ở đó nàng sẽ không biết nói làm sao với chồng. Chưa tìm được lời lẽ nào để nói dối thì hai người đã đến nơi. May thay người lão Bộc và Vương Tôn lại biến đi đâu mất.

Điền thị vững lòng lấy hết can đảm nói :

- Từ hôm phu quân mất đến nay suốt ngày đêm tôi khóc mãi không ăn không ngủ gì được cả. Bỗng nghe trong quan tài có tiếng rên tôi sực nhớ đến cổ nhân có chuyện hoàn hồn nên vội vã bửa nắp quan tài để xem chàng có sống lại chăng !!!

Trang Tử mỉm cười nói :

- Phu nhân có lòng như vậy ta rất cảm ơn song ta chết chưa quá hai mươi ngày lẽ ra phải cư tang thủ tiết chứ sao lại mặc áo tía quần hồng làm gì vậy ?

Điền thị không biết nói sao đành làm lơ dở trò vuốt ve hàng ngày để làm cho phai sự bẽn lẽn của mình. Thôi thì mắt liếc miệng cười đủ trò nghệ thuật.

Trang Tử chỉ cười và cũng chỉ biết cười thôi chứ không còn nói được lời nào nữa. Sai lấy rượu uống uống đến say mèm rồi trèo lên giường ngủ rồi lại chợt dậy lấy bút viết :

Tòng tư liễu khước oan gia trái
Nhĩ ái chi thời... ngã bất ái.

Nhược kim nhĩ tố phu thê
Phạ nhĩ phủ phách thiên linh cái !...

Dịch :

Từ đây nguyệt đứt dây oan trái
Người yêu ta lắm... ta tê tái
Nay dầu giữ mãi nghĩa phu thê
 Búa kia sẽ bửa đầu ta bễ !...
Điền thị nghe xong bốn câu thơ thẹn đỏ mặt lòng như chết điến chưa kịp biện bạch lời nào thì Trang Tử đã ngâm bồi thêm bốn câu thơ nữa :

Phu thê bách nhật hữu hà ân ?

Kiến liễu tân nhân vong cựu nhân !

Phủ đắc cái quan tao phủ phách

Như hà đẳng đãi phiến can phần ?

Dịch :

Trăm ngày tình nghĩa có gì ơn ?

Được mối duyên tình cựu nghĩa nhơn !

Nhát búa nạy quan còn thấy đó

So người quạt mộ gái nào hơn ?

Ngâm dứt bốn câu thơ Trang Tử nói với Điền thị :

- Để ta gọi thầy trò Vương Tôn đến đây cho phu nhân xem nhé !

Liền lúc đó ngoài cửa quả có Vương Tôn và người lão bộc thấp thoáng trước rèm bên trong Trang Tử lại biến đi đâu mất. Điền thị biết chồng mình hóa phép để thử lòng mình nên quá hổ thẹn thắt cổ mà chết.

Trang Tử đem thây vợ xuống đặt vào chiếc quan tài bị phá vỡ rồi lấy chiếc chậu vàng vừa gõ vừa ca :

Ngã tai nhĩ nhoa khẩu

Ngã tử nhĩ bất giá

Thê bị tha nhân hữu

Ngã bị tha nhân khóa

Ngã nhược chân cá tử

Nhất trường đại tiếu thoại

Dịch :

Ta sống nàng khoe khoan

Có chết nguyện thủ tiết

Nhưng rồi lại thay chồng

Ngựa hồng người khác cỡi

Nếu mà ta chết thực

Trò cười thật mỉa mai !

Ca xong đập vỡ cái chậu rồi nổi lửa đốt ngôi nhà. Tất cả đều cháy rụi. Từ đó Trang Tử ngao du trong thiên hạ sớm chiều bạn với trăng sao cây cỏ chán cái mời tục lụy nên chân hồ hải với hai bộ kinh "Đạo Đức" và "Nam Hoa" truyền cho những người hiếu học sau này.
                                  Sưu tầm

                                                                             

More...

Bá Nha - Tử Kỳ

By Đoàn Ngọc Bân


Bá Nha Tử kỳ

Thời Xuân Thu Chiến Quốc tại kinh đô nước Sở (nay thuộc về phủ Kinh Châu tỉnh Hồ Quảng) có một người danh sĩ họ Du tên Thụy hiệu là Bá Nha.

Bá Nha tuy người nước Sở nhưng lại làm quan nước Tấn đến bực Thượng đại phu. Tấn và Sở thời đó hai nước giao hảo nhau.

Một hôm Bá Nha phụng mệnh vua Tấn sang nước Sở để gắn liền giây thân hữu giữa hai nước cho bền vững thêm. Bá Nha được vua nước Sở trọng đãi truyền bày yến tiệc đãi đằng rất hậu.

Tuy nhiên Bá Nha không lấy thế làm vui vì đã bao năm xa cách đất tổ quê hương nay lại được trở về tấm lòng nhung nhớ những kỷ niệm thân yêu xa xưa lâng lâng vào tâm não. Từ mái gia đình đến những cây tòng cây bá mới ngày nào mà nay đã vừa một người ôm cái định luật biến chuyển không ngừng đã phủ một màu tang trên dòng đời xa cũ.

Sau các yến tiệc Bá Nha đi thăm viếng mộ phần họ hàng bè bạn tấm lòng quyến luyến quê hương càng thấy thiết tha hơn lúc nào hết.

Nhưng vì nhiệm vụ chưa thành Bá Nha không dám vì thế mà lưu lại nơi đất tổ phải đành vào triều để từ giã quốc vương trở về nước Tấn.

Vua Sở ban khen rất nhiều vàng bạc lụa là gấm vóc và truyền đem ra một chiếc thuyền rất lớn để đưa Bá Nha về nước.

Bá Nha là một khách phong lưu lỗi lạc trong tâm hồn chứa đựng một nguồn tình cảm thanh cao coi cảnh vật thiên nhiên như một món ăn tinh thần bất tận.

Một hôm thuyền đến cửa sông Hán Dương gặp lúc trăng thu vằng vặc trời rộng sao thưa Bá Nha truyền cắm thuyền dưới chân núi để vui với cảnh đẹp hãi hồ. Mặt nước sông lúc bấy giờ trong vắc như miếng thủy tinh gió lộng trăng ngàn bập bềnh sóng vỗ. Bá Nha truyền cho đồng tử đốt lư trầm và lấy túi đàn đặt lên trước án.

Bá Nha mở tới gấm nâng cây Dao cầm đặt ngay ngắn rồi thử giây. Hơi trầm quyện gió réo rắc đưa tiếng đàn vút tận trên không.

Trong lúc đang hứng thú bỗng tơ đồng đứt mất một dây Bá Nha thất kinh tự nghĩ :

"Dây đàn đứt ắc có người quân tử đang nghe nhạc đâu đây ?" Bèn truyền tả hữu lên bờ xem thử kẻ nào đã nghe đờn mà không ra mặt ?

Tả hữu vâng lịnh vừa toan bước vào bờ thì từ bên trên có tiếng người nói vọng xuống :

- Xin Đại nhân chớ lấy làm lạ vì kẻ tiểu dân kiếm củi về muộn đi ngang qua đây nghe tiếng đàn tuyệt dịu nên chân bước không đành đó thôi.

Bá Nha vừa cười vừa nói :

- Người tiều phu nào mà lại dám nói chuyện nghe đờn trước mặt ta thật là kẻ cuồng vọng. Nhưng thôi hãy cho hắn đi !

Từ bên trên lại có tiếng vọng xuống đáp :

- Đại nhân nói như thế là sai ! Đại nhân nghe câu : "Thập thất chi ấp tất hữu trung tín" đó sao ? (Trong cái ấp mười nhà ắc có người trung tín). Trong nhà có người quân tử ở thì ngoài cửa có người quân tử đến. Vả lại nếu Đại nhân khinh rằng trong chốn núi non quê mùa không có người biết nghe nhạc thì tiếng         đàn tuyệt diệu của Đại nhân cũng không nên gảy lên ở đây làm gì ?

Nghe câu trả lời ấy Bá Nha hơi ngượng biết mình đã lỡ lời liền vội vã bước ra trước mũi thuyền hỏi :

- Nếu kẻ trên bờ quả thật là một người biết nghe đờn thì đây ta hỏi thử vậy chớ ta vừa khảy khúc gì đó ?

Giọng nói trên bờ vẫn bình thản vọng xuống :

- Đó là khúc "Khổng Vọng Vi" than cái chết của Nhan Hồi nhưng vì bị đứt dây nên mất một câu chót. Khúc ấy như vầy :

Khả tích Nhan Hồi mệnh tảo vương. Giáo nhân tư tưởng mấn như sương !

Chỉ nhân lậu hạng đan biểu lạc

Còn khúc chót như vầy :

Lưu đắc hiền danh vạn cổ cương

Dịch :

Khá tiếc Nhan Hồi sớm mạng vong. Tóc sương rèn đúc lấy nhơn tâm !

Đan biểu ngõ hẹp vui cùng đạo Danh tiếng lưu truyền vạn cổ niên.

Bá Nha nghe xong lòng mình phất phới vội vã sai kẻ tùy tùng bắc cầu lên bờ để triệu thỉnh người lạ mặt xuống thuyền tâm sự.

Bọn đầy tớ tuân lệnh song bọn này là những đứa phàm tục những con mắt thịt ấy đâu phân biệt được kẻ quà người hiền chúng quen thói xua bợ hễ thấy người sang trọng thì thưa bẩm thấy kẻ nghèo kó thì khinh khi thấy chủ mình sai đòi một người tiều phu nón lá áo vả tay cầm đòn gánh lưng giắt búa cùn chân đi giày cỏ chúng lên mặt hống hách nạt nộ :

- Hãy đi xuống thuyền ngay và phải giữ lễ. Hễ thấy lão gia phải sụp lạy lão gia có hỏi gì thì phải lựa lời mà nói kẻo mất đầu đó !

Người tiều phu vẫn thản nhiên như không nghe lời nói của chúng từ  từ  bước xuống thuyền bỏ đòn gánh và chiếc búa cùn nơi mũi thuyền rồi bước vào yết kiến Bá Nha.

Trông thấy Bá Nha người tiều phu chỉ xá dài mà không lạy.

Bá Nha thấy thế cũng ngạc nhiên song cũng đưa tay chào đón nói :

- Thôi xin quà hữu miễn lễ cho.

Rồi như muốn thử tài năng người tiều phu xem thực chất đến đâu Bá Nha sai đồng tử nhắc ghế mời tiều phu ngồi lại bên mình và hỏi :

- Hiền hữu biết nghe đờn chắc là biết ai chế ra cây Dao cầm và biết chơi đàn có những thú gì chớ ?

Gã tiều phu mỉm cười đáp :

- Đại nhân đã hỏi đến chẳng lẽ tiểu dân không nói ra những cái mình biết. Xưa kia vua Phục Hy thấy có năm sắc sao rơi xuống cụm ngô đồng và chim Phượng Hoàng đến đó đậu nhà vua biết ngô đồng là thứ gỗ quà hấp thụ tinh hoa của trời đất có thể dùng nó chế làm nhạc khí được liền sai người hạ xuống cắt làm ba đoạn. Đoạn ngọn tiếng quá trong và nhẹ đoạn gốc tiếng đục và nặng chỉ có đoạn giữa tiếng vừa trong vừa đục có thể dùng được. Vua bèn đem ngâm nơi giữa dòng nước chảy bảy mươi hai ngày đoạn đem phơi trong mát chờ cho thật khô lựa tay thợ khéo là Lưu Tử Kỳ chế thành cây Dao cầm.

Dao cầm dài ba thước sáu tấc một phân án theo ba trăm sáu mươi mốt độ chu thiên mặt trước rộng tám tấc án theo tám tiết; mặt sau rộng bốn tấc án theo bốn mùa; bề dày hai tấc án theo lưỡng nghi. Đàn ấy gồm mười hai phím tượng trưng cho mười hai tháng trong một năm lại có một phím nữa tượng trưng cho tháng nhuần trên mắc năm dây án theo ngũ hành trong tượng ngũ âm : cung thương dốc vũ chủy.

Trước kia vua Thuấn khảy đàn ngũ huyền thiên hạ thái bình. Châu Văn Vương ở tù Dũ Là Bá ấp Khảo thương nhớ thêm một giây oán gọi là dây văn huyền (dây văn). Lúc Vũ Vương đánh vua Trụ trước ca sau múa thêm một dây phẩn kích để phấn khởi gọi là dây vũ huyền (dây vũ). Như vậy trước kia có năm dây sau thêm hai dây nữa là thất huyền cầm.

Đàn ấy có sáu "kỵ" và bảy "không". Sáu "kỵ" là kỵ rét lớn nắng lớn gió lớn tuyết rơi lớn; gặp lúc ấy người ta không dùng còn bảy "không" là không đàn đám tang không đàn trong lúc lòng nhiễu loạn không đàn trong lúc bận rộn không đàn trong lúc thân thể không sạch không đàn trong lúc y quan không tề chỉnh không đàn trong lúc không đốt lò hương không đàn trong lúc không gặp tri âm. Lại còn có thêm tám "tuyệt" là : thanh kỳ u nhã li tráng lu trường. Trong tám tuyệt ấy gợi đủ cả các tình cảm vì vậy tiếng đàn có thể đi đến tuyệt vời vậy.

Bá Nha nghe nói biết người tiều phu là bậc kỳ tài đem lòng kính trọng hỏi :

- Hiền hữu quả là một người tinh thông nhạc là. Trước kia Khổng Tử đang gảy đờn Nhan Hồi bước vào thoảng nghe có tiếng u trầm biết lòng Khổng Tử có à tham sát nên lấy làm lạ hỏi ra mới biết Khổng Tử đang đờn thấy một con mèo bắt chuột nên à niệm ấy xuất lộ ra tiếng tơ đồng. Vậy thì trước kia Nhan Hồi nghe tiếng đờn mà biết lòng người còn hiền hữu ngày nay nghe ta đờn có biết lòng ta đang tư lự gì chăng ?

Người tiều phu đáp :

- Xin Đại nhân cứ khảy cho tôi nghe một khúc nếu may ra có cảm thông được thì đó cũng là điều may mắn.

Bá Nha nối dây đờn gảy khúc "à tại non cao".

Tiều phu mỉm cười nói :

- Tuyệt thay ! à chí cao vút ! à tại non cao...

Bá Nha nghe nói ngưng đàn lấy lại tâm hồn gảy thêm khúc : "à tại lưu thủy".

Tiều phu cũng cười và nói :

- Bao la trời nước thật là một khúc : à tại lưu thủy ! tuyệt hay !

Thấy tiều phu biết rõ lòng mình Bá Nha thất kinh khâm phục khôn cùng mời người tiều phu ngồi lên trên khiến kẻ tả hữu dâng trà rồi bày tiệc rượu hai người đối ẳm.

Trong lúc uống rượu Bá Nha cung kính chấp tay hỏi :

- Dám hỏi tiên sinh quý danh và quý quán ?

Người tiều phu cũng đứng lên đáp lễ rồi nói :

- Tiểu dân họ Cung tên Tử Kỳ ngụ tại thôn Tập Hiền gần núi Nhã Yến. Còn Đại nhân chẳng hay cao danh quý tánh và hiện trấn nhận nơi nào ?

Bá Nha kính cẩn đáp :

- Tiện quan họ Du tên Thụy tự Bá Nha nhân vì có công vụ nên đến nơi này. Xét mình tài hèn đức thiếu không xứng đáng với lộc nước ơn vua còn tiên sinh tài năng xuất chúng học vấn cao siêu lẽ ra phải xuất thân đoạt lấy công danh phò vua giúp nước lưu danh muôn thuở sao tiên sinh lại cam ẩn dật nơi chốn núi non này mà làm gì ?

Tử Kỳ nói :

- Tôi còn cha mẹ già không có anh em phận làm con phải lo đến chữ hiếu dẫu cho công hầu bá tước cũng không thể đổi lấy một ngày hiếu dưỡng của tôi được.

À ! Ra tiên sinh là người chí hiếu trong đời khó có ai mà sánh kịp như vậy. Chẳng hay tiên sinh năm nay được bao nhiêu tuổi ?

Tử Kỳ đáp :

- Tiểu dân hai mươi bảy tuổi.

Bá Nha vồn vã nói :

- Tiện quan hn tiên sinh một tuần (mười tuổi) nếu tiên sinh không chê đức mọn tài hèn thì xin kết làm anh em để khỏi phụ cái nghĩa tri âm mà đời tôi chưa từng được gặp.

Tử Kỳ khiêm nhượng đáp :

- Thưa Đại nhân Đại nhân là một bậc công khanh thượng quốc còn tôi là kẻ áo vải quê mùa năm tháng ra vào nơi sơn lâm cùng cốc đâu dám cùng với đại quan so vai kết bạn xin đại quan miễn cho.

Bá Nha nghe Tử Kỳ nói vậy lòng bồi hồi mặt buồn rười rượi năn nỉ :

- Giá trị con người không phải ở chỗ giàu sang phú quà mà là chỗ đức hạnh tài năng nay nếu tiên sinh chịu nhận làm anh em với tôi thì thực là vạn hạnh còn như giàu nghèo sang hèn chúng ta không nên nói tới.

Nói xong Bá Nha sai kẻ tả hữu gây lại lò hương rồi cùng Tử Kỳ lạy tám lạy nhận nhau làm anh em khác họ.

Bá Nha lớn tuổi hơn làm anh. Hai người vui vẻ ngồi kề nhau đối ẳm. Nỗi lòng tâm sự của một khách phong trần với một người chung đỉnh được hoàn toàn cởi mở vượt qua những cái giả dối đê hèn của cuộc sống loài người       để trở lại với cái thiên chân thuần túy.

Hai người chuyện trò mãi mà không biết chán đến khi ánh trăng đã lạt màu sao trên trời chỉ còn sót lại một vài đóm trắng tiếng gà eo óc đầu thôn dục bóng bình minh hai người vẫn còn như đắm say trong tình giao cảm quên hẳn cả thời gian.

Khi tên thủy thủ đến gần xin lệnh cho thuyền lên đường Tử Kỳ đứng dậy cáo biệt.

Bá Nha giọng run run nhìn Tử Kỳ nói :

- Lòng tôi quá cảm mộ chưa nỡ rời hiền đệ vậy mời hiền đệ cùng đi với tôi qua một đoạn đường để du sơn du thủy và trò chuyện cùng nhau cho cạn mối tâm tình.

Tử Kỳ bùi ngùi đáp :

- Lẽ ra tiểu đệ phải đưa tiễn hiền huynh vài dặm mới phải ngặt vì cha mẹ của tiểu đệ. Ở nhà đang trông xin hiền huynh thứ lỗi.

Bá Nha nói :

- Vậy thì hiền đệ về nhà xin với song đường qua Tấn Dương thăm chơi chắc bá phụ và bá mẫu cũng không nỡ từ chối.

Tử Kỳ nói với giọng luyến tiếc :

- Tiểu đệ không dám phụ lời hiền huynh song việc này không dám hứa chắc ; vì vạn nhất nếu tiểu đệ không xin phép được thung đường thì thành ra thất hứa với hiền huynh ấy là tội của tiểu đệ rất lớn !

Cảm lòng hiếu thảo của Tử Kỳ Bá Nha nói :

- Hiền đệ thực là một bậc quân tử ; nếu vậy thì thôi để tôi sẽ tìm cách đến thăm tiểu đệ.

Tử Kỳ hỏi :

- Bao giờ hiền huynh sẽ ghé lại thăm tiểu đệ ?

Bá Nha tính đốt tay một lúc rồi nói :

- Sang năm cũng đúng vào ngày này.

Tử Kỳ nói :

- Nếu vậy thì sang năm cũng đúng vào ngày này tiểu đệ xin đợi hiền huynh nơi gành đá.

Tử Kỳ nói xong toan cáo biệt Bá Nha giữ lại và nói :

- Hãy khoan hiền đệ thư thả một chút đã.

Dứt lời Bá Nha quay lại sai đồng tử lấy ra hai nén vàng ròng rồi hai tay nâng cao lên trước mặt nói :

- Đây là món lễ mọn của ngu huynh làm quà cho bá phụ và bá mẫu tấm tình cốt nhục hiền đệ chớ nên chối từ.

Cảm tình tri ngộ Tử Kỳ không dám từ chối nghẹn ngào cầm hai nén vàng lệ tràn khóe mắt bùi ngùi ra đi.

Bá Nha tiễn đến đầu thuyền nắm tay Tử Kỳ không nỡ rời.

Xưa nay có cuộc chia ly nào mà không ngậm ngùi giữa kẻ ở người đi huống chi tình bạn tâm giao nỗi lòng chưa cạn Bá Nha cứ nhìn theo nhìn mãi cho đến lúc Tử Kỳ đi khuất mới cho nhổ neo.

Dọc đường Bá Nha lâng lâng nhớ tiếc đăm đăm đôi mắt về một phương trời nên mặc dầu trời trong gió mạt cảnh         đẹp muôn vàn mà đối với Bá Nha lúc ấy như thờ ơ lạnh nhạt.

Về đến kinh đô Bá Nha vào yết kiến vua Tấn để nhận lấy những lời ban khen của cửu trùng.

... Thời gian lặng lẽ trôi như một dòng sông êm ả...

Mới ngày nào gió thu rào rạc tiếng sáo biệt ly còn văng vẳng bên tai thế mà thoắc đã một năm qua; ngọn gió heo may từ miền bắc cực thổi về báo hiệu lại một mùa thu nữa đến...

Bá Nha nhớ lại ngày mình ước hẹn vội vã vào triều xin vua Tấn cho nghỉ phép về Sở thăm nhà.

Vua Tấn nhậm lời. Bá Nha sửa soạn cây đờn đem vài tên đồng tử  rồi lặng lẽ xuống thuyền ra đi...

Khi đến Hán Dương vừng kim ô đã ngã bóng xuống lòng sông khói sóng dâng lên nghi ngút.

Bọn thủy thủ vào báo cho Bá Nha biết thuyền đã đến núi Mã Yên. Bá Nha lập tức ra đứng nơi mũi thuyền xem cùng bốn phía nhận ra nơi đây quả là nơi đã gặp Tử Kỳ năm trước.

Sau khi hạ lệnh cắm thuyền Bá Nha vẫn đứng trông về phía núi Mã Yên đỉnh núi cao hun hút mịt mờ trong màn sương xám của hoàng hôn gợi lên một cái gì xa vắng.

Bá Nha nghĩ bụng :

- Năm ngoái vì tiếng đàn mà gặp được tri âm năm nay ta đờn một khúc nhạc nữa hẳn Tử Kỳ nghe tiếng phải lần đến.

Tối hôm ấy Bá Nha sai tiểu đồng lấy cây Dao cầm ra đốt lò hương vặn phím đem hết tinh thần nhớ nhung xây thành một khúc nhạc tâm tư. Khi đan đờn bỗng thấy trong tiếng đờn mình có hơi ai oán nổi lên. Bá Nha thất kinh dừng tay lại suy nghĩ : "Cung thương có tiếng ai oán thê thảm như thế hẳn Tử Kỳ gặp nạn lớn rồi. Sáng mai ta phải lên bờ dò hỏi mới được".

Đêm ấy Bá Nha nằm thổn thức với ngọn đèn mờ suốt canh trường không chợp mắt ;  nỗi lòng nhớ nhung bồi hồi rào rạc dâng lên như nhịp sóng trầm bất tận của mặt tràng giang.

Trời chưa sáng Bá Nha đã truyền cho đồng tử theo mình lên bờ đem theo cây đàn và mười thẻ vàng nhắm chân núi Mã Yên thẳng tới.

Ra khỏi triền núi hai bên cây cối um tùm và có mấy con đường băng ngang rất lớn ; Bá Nha không biết đi con đường nào bèn ngồi nghỉ chân nơi một tảng    đá đợi có người nào đi ngang qua sẽ hỏi thăm.

Một lúc sau có một ông lão tay xách giỏ mây tay cầm gậy trúc xăm xăm đi tới.

Bá Nha cúi mình thi lễ.ông già thấy thế hỏi :

- Tiểu sinh có điều gì cần hỏi han chăng ?

Bá Nha cung kính đáp :

- Thưa lão trượng trong mấy con đường này đường nào về Tập hiền thôn ? ông già đáp :

- Cả hai con đường    đường nào cũng về  Tập hiền thôn cả. Con đường tay phải về Thôn thượng Tập hiền còn con đường bên trái về thôn hạ Tập hiền. Vậy tiên sinh cần đến thôn nào ?

Bá Nha hỏi :

- Thưa lão trượng Chung Tử Kỳ ở về thôn nào ?

Vừa nghe nhắc đến ba tiếng Chung Tử Kỳ ông già kia bỗng sa sầm nét mặt đôi mắt sâu ngòm động đầy cả lệ thứ lệ đặc và mặn chầm chậm tràn ra trên đôi má nhăn nheo ông ta sụt sùi kể :

- Chung Tử Kỳ chính là con của lão. Năm ngoài cũng vào ngày này tháng này nó đi đốn củi về muộn có gặp một người nước Tấn là Bá Nha tiên sinh. Vì chỗ đồng thanh tương ứng hai người kết nghĩa anh em. Lúc ra đi Bá Nha tiên sinh có tặng cho con tôi hai nén vàng; con tôi về nhà dùng tiền ấy mua sách đọc bất kể giờ khắc. Vì ban ngày đốn củi mệt nhọc tối đến lại lo học hành nên chẳng bao lâu bị bịnh lao mà qua đời rồi.

Chưa kịp nói hết câu đôi dòng nước mắt của Bá Nha đầm đìa trào ra như hai dòng suối. Bá Nha nghẹn ngào không nói được nửa lời.

Chung lão thấy thế lấy làm lạ hỏi tên tiểu đồng :

- Tiên sinh đây là ai vậy ?

Tiểu đồng đáp :

- Thưa lão trượng đây là quan Thượng đại phu nước Tấn Du Bá Nha đó !

Chung lão nghe nói thốt ra hai tiếng "ối trời" rồi cũng nghẹn ngào không nói gì được nữa. Cả hai người chỉ nhìn nhau và thông cảm nhau bằng những giòng nước mắt hai thứ nước mắt khác nhau nhưng chảy cùng một nhịp chung nhau một mối đau đớn.

Cuối cùng Chung lão gượng gạo thi lễ và nói :

- Mong ơn Đại nhân không chê cảnh bần tiện. Con lão lúc lâm chung có dặn vì lúc sống không tròn được đạo làm con lúc chết xin chôn nơi chân núi Mã Yên để trọn nghĩa tâm giao với lời ước hẹn cùng quan Đại phu nước Tấn. Vì thế theo lời trăn trối lão đã đem chôn nói nơi bên ven đường ở chân núi. Con đường tiên sinh đi đến bên mặt có nấm đất con đó là ngôi mộ của con tôi đó. Nay mới vừa đúng một trăm ngày lão mang vàng hương đến thăm mộ mới gặp tiên sinh ở đây.

Bá Nha lau nước mắt nói :

- Sự đời biến đổi may rủi khó lường nay đã đến nỗi này tôi xin theo lão trượng đến trước mộ phần để lạy vài lạy cho thỏa tình mong nhớ.

Nói xong Bá Nha sai tiểu đồng xách giỏ cho Chung lão rồi cùng nhau kẻ trước người sau trở lại nơi chân núi.

Khi đến nơi Bá Nha thấy nấm đất bên đường cỏ xanh chưa kín lòng gợi lên một mối thê lương. Bá Nha vừa khóc vừa lạy tuy miệng không nói được nửa lời mà trong lòng như đã nói tất cả nỗi hờn biệt ly.

Lạy xong Bá Nha truyền đem cây đờn đến rồi ngồi trên một tảng đá tấu lên một khúc nhạc "Thiên thu trường hận".

Bỗng thấy gió nhàn rít mạnh ánh sáng u buồn mấy tiếng chim kêu u uất vọng lên từ xa như những hồn ma bóng quế dật dờ khi say khi tỉnh.

Bản nhạc ngưng gió ngừng thổi trời lại sáng dần.

Bá Nha nói với Chung lão :

- Có lẽ hồn Tử Kỳ đã hiện về đó ! Chẳng hay lão bá có biết cháu đờn khúc gì đó không ?

Chung lão đáp :

- Lúc nhỏ lão cũng có biết chút ít về cầm tháo nhưng nay tuổi đã già tâm thần hỗn loạn không có thể phân định được khúc gì.

Bá Nha nói :

- Cháu vừa đờn khúc đoản ca để viếng người tri âm tài hoa mệnh yểu.

Bá Nha bỗng hai tay cầm cây đờn đưa lên cao đập mạnh xuống tảng đá. Cây đờn vỡ ra từng mảnh trục ngọc phím đồng rời rã tơi bời.

Chung lão hoảng kinh hỏi :

- Sao tiên sinh giận gì mà lại đập cây đờn đi vậy Bá nha đọc luôn bốn câu thơ để đáp lời ông lão :

Dao cầm đập nát đau lòng phượng Đã vắng Tử Kỳ đàn với ai ?

Gió xuân bốn mặt bao bè bạn. Muốn tìm tri âm thật khó thay !

Chung lão thở dài nói :

- Chỉ vì không có người biết nghe mà kẻ đờn hay phải đành thất vọng !

Bá Nha hỏi :

- Lão bá ở thôn Tập hiền nào ?

Chung lão đáp :

- Tệ xá ở nơi thôn Tập hiền thượng vậy mời đại nhân nếu không chê nghèo nàn xin đến đó nghỉ ngơi.

Bá Nha nói :

- Hạ quan xin cảm ơn lão bá nay nếu hạ quan có trở về đó cũng chỉ gợi thêm nhiều mối nhớ nhung mà thôi. Nhân dịp hạ quan có đem theo mười nén vàng xin dâng cho lão bá dùng một nửa trong việc cung dưỡng tuổi già còn một nửa mua mấy mẫu ruộng để làm tự cho Tử Kỳ. Mai hạ quan về triều dâng biểu cáo quan trở về quê cũ chừng ấy hạ quan sẽ rước bá phụ bá mẫu về sống chung để yên hưởng những ngày tàn. Tôi tức là Tử Kỳ và Tử Kỳ cũng tức là tôi vậy.

Nói xong Bá Nha hai tay dâng mười nén vàng cho Chung lão sụp xuống đất lạy mấy lạy rồi ra đi. Chung lão đứng nhìn theo lòng bùi ngùi luyến ái...
                              Sưu tầm trên Internet

More...

Thư cho con

By Đoàn Ngọc Bân

                    ..... ngày...tháng ...năm ...
                      Con thân yêu!
Lúc ba còn đi học ba đã đọc chuyện ngụ ngôn "Thỏ và Rùa" lúc ấy ba rất thích con cũng đã đọc rồi phải không? Và ba nghĩ là chắc rất nhiều người đọc chuyện ấy. Giờ ba kể lại chuyện ấy cho con nghe lại lần nữa nhé

Chuyện là:
Ngày xửa ngày xưa có một con Rùa và một con Thỏ cãi nhau: xem ai nhanh hơn. Không sao giải quyết được hai bên quyết định bằng một cuộc thi chạy đua. Thế là cuộc đua được bắt đầu.

Thỏ xuất phát rất nhanh chạy nhanh như tên bắn và sau một hồi Thỏ thấy rằng mình đã bỏ khá xa bạn Rùa yên tâm là Rùa không sao đuổi kịp. Đến gần một bãi cỏ non Thỏ ung dung dạo chơi gặm cỏ sau một hồi no nê Thỏ nằm nghỉ dưới một tán cây và ngủ thiếp đi từ lúc nào không biết. Rùa từ từ vượt qua Thỏ và đã sớm về đến đích kết thúc cuộc đua và dành thắng lợi. Sau giấc ngủ ngon lành Thỏ giựt mình tỉnh giấc và nhận ra rằng Rùa đã về đích trước và nó đã bị thua.
Con thân yêu! chậm như Rùa nhưng chắc và kiên nhẫn thì chiến thắng cũng đến được với mình vậy.

Giờ ba kể tiếp cho con nghe chuyện  Thỏ và Rùa nữa nhé!
Sau lần thua thảm bại Thỏ vô cùng thất vọng vì đã để thua và nó đã nhận ra rằng đã thua chỉ vì quá tự tin bất cẩn và thiếu kỷ luật. Nếu không chủ quan xem mọi thứ quá dễ dàng và chắc thắng thì Rùa không thể nào hạ được. Vì thế Thỏ tìm đến Rùa và thách đấu lần nữa. Rùa đã đồng ý.
Lần này Thỏ chạy với tất cả sức lực không nghỉ không dạo chơi và chạy suốt một mạch về đến đích. Nó đã bỏ xa chú Rùa còn ở tận đâu đâu.
Con thân yêu!  nhanh và hoạt bát của chú Thỏ sẽ chiến thắng cái chậm và kiên nhẫn của chú Rùa đó cũng là quy luật vậy. Chậm và chắc là điều tốt nhưng nhanh và tin tưởng là điều tốt hơn.


Nhưng câu chuyện cũng không dừng lại ở đây.
Rùa đã suy ngẫm kết quả và nhận ra rằng: nó không thể nào thắng được Thỏ trên đường đua vừa rồi được. Sau mấy ngày tính kế Rùa tìm đến Thỏ lại thách thức cuộc đua nữa nhưng có thay đổi đôi chút  về đường đua. Thỏ chủ quan không hiểu được mưu kế của Rùa và Thỏ ta đã đồng ý.
Cuộc đua lại bắt đầu. Như đã tự nhủ với lòng là phải luôn nhanh Thỏ bắt đầu chạy với tốc độ cao nhất chạy miết nhưng Thỏ phải dừng lại vì trước mặt mình là một con suối và hỡi ôi! điểm về đến đích đang ở phía bên kia con suối tai ác này.
Thỏ dành ngồi chết lặng và tự hỏi không biết làm sao đây. Lúc ấy Rùa đã lúc lắc đến nơi lội xuống suối và bơi qua bờ bên kia tiếp tục chạy và kết thúc đường đua. Giành chiến thắng mỹ mãn.

Con thân yêu! Nhanh như Thỏ cũng thắng mà cũng thua; Chậm như Rùa cũng có thua và cũng có thắng nhưng điều quan trọng là cần phải biết mình biết ta biết xác định ưu thế và sau đó là biết chọn những gì phù hợp với mình.



Và câu chuyện vẫn chưa dừng lại.
Đến lúc này Thỏ và Rùa đã trở thành đôi bạn thân thiết tự suy gẫm về mình họ cùng nhau trao đổi bàn luận. Cả hai nhận ra rằng còn một cuộc đua sau cùng nữa hy vọng sẽ có kết quả hoàn hảo hơn. Vì thế chúng quyết định tổ chức một cuộc đua cuối cùng nhưng sẽ cùng chạy chung một đội.
Bắt đầu xuất phát Thỏ cõng Rùa chạy và khi đến bên bờ suối Rùa lội xuống và cõng Thỏ bơi qua bên kia bờ. Lên đến bờ Thỏ lại cõng Rùa mà chạy tiếp đưa cả hai cùng về đến đích. Và cả hai nhận ra rằng là đã về đích sớm hơn rất nhiều so với các lần đua trước đây.


Con của ba
Cả Thỏ và Rùa đều không đầu hàng hay nản chí sau thất bại. Thỏ quyết tâm làm việc hăng hơn và cố gắng nhiều hơn sau khi phải thất bại cay đắng. Rùa phải thay đổi chiến lược vì nó đã cố gắng làm việc hết sức mình. Trong cuộc sống lắm khi phải chịu đựng đối mặt với thất bại và đó cũng là lúc để tự mình cố gắng và nỗ lực nhiều hơn nữa nhưng cũng cần phải có mưu lược. Và phải tự rèn cho mình sao cho:"Thắng không kiêu bại không nản".
Và phải biết lấy chứ "NHÂN" làm đầu biết đùm bọc thương yêu nương tựa giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau về đến đích cái thành công của một đời người.

Thỏ và Rùa của ba kể đã dừng cuộc đua lần sau ba sẽ kể tiếp chuyện khác cho con nghe nhé chúc con ngủ ngon giấc.
                                  Ba


                

More...

HAPPY NEW YEAR

By Đoàn Ngọc Bân

More...

Thành công và thất bại

By Đoàn Ngọc Bân

 

Người thành công biết chính xác những gì mình muốn tin tưởng vào khả năng của mình và sẵn sàng cống hiến hết thời gian của cuộc đời để đạt được điều đó.
Người thất bại không có mục đích cụ thể cho cuộc sống luôn tin rằng mọi thành công đều là kết quả của vận may và chỉ thật sự bắt tay vào việc khi có sự tác động từ bên ngoài.
Người thành công có khả năng ảnh hưởng đến những người xung quanh và hợp tác với họ trong thái độ thân thiện.
Người thất bại tìm thấy khuyết điểm của mình ở người khác.
Người thành công chỉ bày tỏ ý kiến về những điều mình biết và họ hoàn toàn có thể thực hiện điều đó một cách rất khôn ngoan.
Người thất bại phát biểu ý kiến về mọi vấn đề mà họ chỉ biết chút ít hoặc hoàn toàn không có một chút kiến thức gì về chúng.
Người thành công dung hoà quan hệ với tất cả mọi người mà không quan tâm đến lợi ích đạt được.
Người thất bại chỉ nuôi dưỡng quan hệ với những ai mà từ đó họ sẽ có những thứ mà họ muốn.
Người thành công luôn trau dồi kiến thức và mở rộng lòng khoan dung. Họ sống hướng đến quyền lợi chung của cộng đồng.
Người thất bại có trí tuệ hạn chế sự vị kỷ chiến thắng lòng vị tha. Vì vậy họ tách khỏi những cơ hội thuận lợi và mối quan hệ thân thiện với xã hội.
Người thành công theo kịp thời đại và xem đây là một trách nhiệm quan trọng để biết được điều gì đang diễn ra.
Người thất bại chỉ quan tâm đến bản thân với những nhu cầu trước mắt và bất chấp mọi thứ để thực hiện không cần biết đó là điều tốt hay xấu.

Vậy Thành Công hay Thất Bại không phải do một đấng cứu thế nào ban cho ta cả mà hoàn toàn phụ thuộc vào chính bản thân mình.

                                                                  Sưu tầm

More...

Con đi học

By Đoàn Ngọc Bân

 

Con vào đại học...

Ba má hàng ngày gọi điện thoại hỏi thăm đôi khi điện thoại của con bận hoặc một lý do khách quan - con không nhắc máy; dù có giận dỗi nhưng vẫn luôn gọi điện thoại hỏi thăm động viên và còn là đỡ nhớ thương nữa.

Con về chơi nhà chẳng mang được gì về làm quà nhưng lại có một danh sách dài những thứ sẽ mua sắm để mang đi. Chỉ có mấy ngày ở nhà đến ngày đi đã thấy má đã mua hết những món con "ghi chú" bỏ vào thùng đóng gói niêm phong cẩn thận.

Con quay lại trường khệ nệ nào là những thùng những hộp. Mở ra thật ngạc nhiên khi có rất nhiều thứ không hề có trong bảng "phong thần" của con đã ghi. Nào kem đánh răng thuốc uống đường sữa và có cả những đồ dành cho phụ nữ chúng con... Mở từng món quà mà đôi mắt cứ rưng rưng muốn khóc. Ba  má không gói đồ cho con ba má đã gói tình thương của cha mẹ.

Má gọi điện hỏi đã ăn chưa? ba gọi hỏi còn tiền hay không? Còn dặn bảo cứ ăn uống cho đủ sức để học ở nhà dù phải ráng nhưng cũng đủ cho con ăn học vậy.


Hàng ngày con thấy có lỗi hoặc mang ơn rất nhiều người thầy cô bạn bè ... con đã nhiều lần "xin lỗi hoặc cảm ơn" họ nhưng nhớ ra con chỉ biết nũng nịu vòi vĩnh chứ chưa bao giờ con nói với má với ba. Nhưng mỗi bước con đi những nẻo đường con đến sẽ có nghĩa lý gì nếu như không có ba có má của con.

Có phải khi lớn lên thì mới thật hiểu được "tấm lòng" của đấng sinh thành. Ba là bóng che má là con nước tưới mát cho cả cuộc đời của con trẻ.

More...

Thư cho con

By Đoàn Ngọc Bân

                 .... ngày...tháng ....năm ....                                       

                                Con yêu dấu
Con buồn vui với sự khen chê ư và đôi lúc con sẽ không còn tự làm chủ bản thân mình được nữa. Cuộc sống là như vậy riêng con con hỏi ba "Phải như thế nào?". Giờ ba kể cho con nghe câu chuyện này nhé.
   
Chuyện kể rằng: 

Ngày xưa có một họa sĩ tên là Ranga một người siêu việt vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng đều khen ngợi.

Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa học. Ông nói:
"Một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó".
Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá ước định của ông và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự thái độ với cuộc sống của học trò.

Trong một số lượng lớn học trò Rajeev là một người có tài nhất chăm chỉ sáng tạo nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.

Một ngày kia sau bao nhiêu cố gắng Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:
- Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp phải khen ngợi.

Rajeev làm việc ngày đêm trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:
- Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng. Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó.

Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.

Sau hai ngày Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.

Hai ngày sau khi lấy tranh về Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:
- Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách nhiệm hay nghiêm túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa vì họ sợ bộc lộ hiểu biết- những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên những thứ mà con phải vất vả để làm ra được đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.

Giờ thì con biết phải như thế nào rồi phải không con? Chúc con đêm nay ngủ ngon giấc. Mai ba sẽ kể chuyện tiếp cho con nghe.

                                                                     Ba

More...

Sự tích ĐỨC PHẬT DI LẶC

By Đoàn Ngọc Bân

 

SỰ TÍCH ĐỨC DI LẶC BỒ TÁT


Đức Di Lặc là một vị Phật thứ năm trong Hiền kiếp (Bốn vị Phật trong Hiền kiếp đã ra đời kể ra sau đây: 1. Đức Cấu Lưu Tôn 2. Đức Câu Na Hàm 3. Đức Ca Diếp 4. Đức Thích Ca Mâu Ni) để nối ngôi Phật Thích Ca ra đời mà giáo hóa chúng sanh.

Nhưng số kiếp chưa đến Ngài còn ở trên cung Trời Đâu Suất thường hay hóa thân trong mười phương thế giới mà thuyết pháp độ sanh.

Khi Ngài ứng tích tại Song Lâm thì tên của Ngài là: Phó Đại Sĩ và lúc Ngài hóa thân ở Nhạc lâm thì hiệu của Ngài là: Bố Đại Hòa Thượng.

Công việc hành tàng bước đường lai khứ trong hai khoảng chuyển sanh ấy nào là lời phương tiện quyền xảo nào là lời vi diệu pháp âm làm cho người đời đều tỉnh giấc mộng mà quy đầu về Chánh giáo.

Nay xin lược thuật sự tích lúc Ngài hóa thân làm vị Bố Đại Hòa Thượng ra sau đây cho quý vị độc giả xem.

Đương thời kỳ nước Lương thuộc về đời Ngũ quí Ngài ứng tích ở nơi Châu Minh tại huyện Phụng hóa thân hình khác hơn người thế tục trán thì nhăn bụng thì lớn và hình vóc mập mạp.

Lúc đó không ai biết tên họ của Ngài chỉ thấy Ngài thường mang theo một cái túi vải mà thôi nên người kêu là: Bố Đại Hòa Thượng.

Tánh Ngài hay khôi hài và chỗ ăn và nằm ngày đêm không có nhứt định mà Ngài đi đâu rồi cũng thấy trở về Chùa Nhạc Lâm mà trú ngụ.

Mỗi khi đi đường Ngài thường cầm gậy Tích trượng và mang cái túi bằng vải không khi nào rời hai vật ấy ra khỏi mình lại có 18 đứa con nít (là lục căn lục trần và lục thức) nhỏ thường đeo đuổi theo một bên mà diễu cợt làm cho Ngài tức cười mãi mãi. Thường khi Ngài đi vào chốn thôn quê hay là nơi đồng ruộng hễ ai cho những vật gì khi Ngài ăn xong còn dư lại bao nhiêu đều bỏ vào túi.

Lúc đi tới nơi chợ quán thì Ngài ngồi xuống mở túi lấy những đồ ăn dư đưa lên kêu mấy người đứng xung quanh mà nói rằng: "Các ngươi xem coi đó là cái gì ?" Ngài nói rồi một giây lâu bỏ đồ ấy vô túi mà mang đi.
Còn có khi Ngài gặp Thầy Sa Môn đi ngang qua Ngài ở sau vỗ lưng một cái làm cho Thầy Sa Môn giựt mình ngó lại mà hỏi rằng: "Hòa Thượng làm cái gì vậy ?"
Ngài liền giơ tay nói: " Ngươi cho Ta xin một đồng tiền".
Thầy Sa Môn thấy vậy bèn nói rằng: "Nếu tôi hỏi một điều mà Hòa Thượng nói đặng thì tôi cho".
Ngài liền để cái túi xuống chấp tay đứng một bên rồi lấy túi mang trở lại mà lật đật quày quả đi liền.

Một bửa kia Ngài đi vào trong đám đông người có một ông Tăng hỏi Ngài rằng: "Hòa Thượng ở trong đám đông người làm chi đó?"
Ngài trả lời rằng: "Ta đương đợi một người đến"
Ông Tăng hỏi: "Hòa Thượng đợi ai ?"
Ngài bèn thò tay vào túi lấy một trái quít đưa cho ông Tăng.
Ông vừa giơ tay ra lấy trái quít Ngài liền thục tay lại mà nói rằng: "Ngươi chẳng phải người ấy"

Lại có một bửa ông Tăng chợt thấy Ngài đứng bên đường gần chợ bèn hỏi rằng: "Hòa Thượng ở đây làm chi ?"
Ngài liền đáp rằng: "Ta đi hóa duyên".
Ông Tăng thấy vậy mới nói rằng: "Hóa duyên ở đâu nơi ngã tư như vậy ?"
Ngài trả lời: " Ngã tư chính là chỗ Ta muốn hóa duyên".
Ông Tăng vừa muốn hỏi chuyện nữa thì Ngài liền mang cái túi vải rồi cười ngất mà đi một hơi.

Có một khi ông Bạch Lộc Hòa Thượng gặp Ngài liền hỏi rằng: " Thế nào gọi là: cái túi vải ?"
Ngài nghe hỏi liền để túi xuống rồi khoanh tay mà đứng.
Ông Bạch Lộc Hòa Thượng lại hỏi rằng: "Công việc của cái túi vải ra làm sao ?"
Ngài liền mang túi mà đi không trả lời chi hết.

Có một bửa kia ông Bảo Phước Hòa Thượng gặp Ngài hỏi rằng: "Thưa Ngài! Duyên cớ tại sao mà xưa Đức Tổ Sư ở bên Tây phương qua đây là có ý gì ?"
Ngài nghe hỏi liền để cái túi vải xuống rồi đứng tự nhiên.
Ông Bảo Phước Hòa Thượng lại hỏi nữa rằng: " Chỉ như vậy hay là còn có cái gì nữa hay không ?"
Ngài nghe hỏi như thế bèn lấy túi vải mang trở lại mà đi không hề trả lời.

Từ đó về sau hễ Ngài đi đến đâu thì người ta tranh nhau mà chận đón và níu kéo đặng mời Ngài vào nhà chớ không cho đi luôn. Bởi vậy cho nên trong các quán rượu và tiệm cơm người người tha hồ ăn uống no say không có chút gì nhàm chán vì Ngài vào đâu thì buôn bán đắt đến bội phần.

Lúc nào gặp trời mưa thì tản sáng Ngài ngủ dậy mang guốc cao gót đi ra nằm ngửa trên cái cầu to co chưn lại dựng hai bắp vế lên thì ngày ấy nắng. Còn khi nào trời nắng mà Ngài mang đôi dép cỏ đi ra ngoài đường ngày ấy trời lại mưa.

Thường bửa Ngài hay tới nhà một nông phu kia mà ăn cơm. Có một hôm người vợ tên ấy thấy vậy nổi giận mà rầy rằng: "Đương lúc lo việc ruộng nương rộn ràng không xiết mình có công đâu mà nuôi lão Hòa Thượng điên đó hoài! "
Ngài nghe nói mấy lời ấy liền đem cơm đổ dưới gốc cây dâu ở bên nhà rồi bỏ đi.
Cơm ấy tự nhiên hoàn lại trong nồi của người nông phu. Hai vợ chồng thấy vậy rất kinh bèn cùng nhau đi kiếm Ngài rồi lạy lục mà xin sám hối.

Có một khi đương buổi mùa hạ khí trời nóng nực Ngài cởi quần áo để trên bờ mà xuống khe tắm.
Lũ trẻ khuấy chơi bèn lén lại lấy cả áo quần. Đương lúc tắm Ngài thấy vậy thì lật đật để mình trần truồng mà rượt theo bọn con nít. Mấy người ở trên bờ xúm nhau lén coi thì thấy âm tàng của Ngài như trẻ nhỏ vậy.

Gần chỗ đó có tên Lục Sanh nghề vẽ rất tinh xảo. Người ấy thấy Ngài bèn vẽ một bức tượng in hệt mà dán tại Chùa nơi vách nhà Đông.
Bửa nọ Ngài đi ngang qua bên vách thấy tượng ấy liền khạc nhổ rồi bỏ đi.

Khi Ngài ở tại xứ Mân Trung có một người cư sĩ họ Trần thấy Ngài làm nhiều việc kỳ thần nên đãi Ngài rất cẩn trọng.
Lúc Ngài từ giã ông Trần cư sĩ mà đi qua xứ Lưỡng Chiết ông muốn rõ tên họ Ngài bèn hỏi rằng: "Thưa Hòa Thượng! Xin cho tôi biết họ Ngài là chi sanh năm nào tháng nào ngày nào giờ nào và xuất gia đã bao lâu rồi ?"
Ngài đáp rằng: "Ta tỏ thiệt cho ngươi rõ rằng Ta chính là họ Lý sanh ngày mùng tám tháng hai. Ta chỉ biểu hiệu cái túi vải này mà để độ đời đó thôi. Vậy ngươi chớ tiết lộ cho ai biết".
Ông Trần cư sĩ nghe nói như vậy bèn thưa rằng: "Hòa thượng đi đâu nếu có ai hỏi việc chi thì Ngài trả lời làm sao cho hợp lý chớ tùy thuận theo người thì không khỏi bàng nhơn dị nghị tiếng thị phi.

Ngài bèn đáp một bài kệ rằng:

Ghét thương phải quấy biết bao là
Xét nét lo lường giữ lấy ta;
Tâm để rỗng thông thường nhẫn nhục
bửa hằng thong thả phải tiêu ma;
Nếu người tri kỷ nên y phận
Dẫu kẻ oan gia cũng cộng hòa;
Miễn tấm lòng này không quái ngại
Tự nhiên chứng đặng "Lục ba la"

Ông Trần cư sĩ lại hỏi rằng: "Bạch Hòa thượng!
Ngài có pháp hiệu hay không ?"

Ngài liền đọc bài kệ mà đáp rằng :

Ta có cái túi vải
Rỗng rang không quái ngại;
Mở ra khắp mười phương
Thâu vào Quan tự tại.

Ông Trần cư sĩ hỏi rằng: "Hòa thượng đi đây có đem đồ hành lý hay không?"

Ngài đáp bài kệ :

Bình bát cơm ngàn nhà
Thân chơi muôn dặm xa;
Mắt xanh xem người thế
Mây trắng hỏi đường qua.

Ông Trần cư sĩ thưa: "Đệ tử rất ngu biết làm sao cho đặng thấy tánh Phật".

Ngài bèn đáp bài kệ:

Phật tức tâm tâm ấy là Phật
Mười phương thế giới là linh vật;
Tung hoành diệu dụng biết bao nhiêu
Cả thảy chẳng bằng tâm chơn thật.

Ông Trần cư sĩ thưa rằng: "Hòa thượng đi lần này nên ở nơi chùa chớ đừng ở nhà thế gian.

Ngài bèn đáp bài kệ rằng:

Ta có nhà Tam Bảo
Trong vốn không sắc tướng;
Chẳng cao cũng chẳng đê    
Không ngăn và không chướng;
Học vẫn khó làm bằng
Cầu thì không thấy dạng;
Người trí biết rõ ràng
Ngàn đời không tạo đặng;
Bốn môn bốn quả sanh
Mười phương đều cúng dường.

Ông Trần cư sĩ nghe bài kệ lấy làm lạ liền đãnh lễ Ngài mà thưa rằng: "Xin Hòa thượng ở nán lại một đêm mà dùng cơm chay với tôi đặng tỏ dấu đệ tử hết lòng cung kính xin Ngài từ bi mà hạ cố".

Đêm ấy Ngài ở lại nhà Trần cư sĩ. Đến khi đi thì Ngài viết một bài kệ dán nơi cửa:

Ta có một thân Phật
Có ai đặng tường tất;
Chẳng vẽ cũng chẳng tô
Không chạm cũng không khắc;
Chẳng có chút đất bùn
Không phải màu thể sắc;
Thợ vẽ vẽ không xong
Kẻ trộm trộm chẳng mất;
Thể tướng vốn tự nhiên
Thanh tịnh trong vặc vặc;
Tuy là có một thân
Phân đến ngàn trăm ức.

Khi Ngài đi đến quận Tứ minh Ngài thường giao du với ông Tưởng Tôn Bá một cách rất thân mật Ngài có khuyên bảo ông mỗi ngày trì niệm câu chú: "Ma ha bát nhã ba la mật đa".
Vì vậy người ta đều kêu ông Tưởng Tôn Bá là: Ma ha cư sĩ.

Có một ngày nọ ông Ma ha cư sĩ cùng Ngài đồng tắm dưới khe Trường đinh. Khi Ngài đưa lưng bảo ông Ma Ha kỳ giùm thì ông thấy nơi lưng Ngài có bốn con mắt rực rỡ chói lòa bèn lấy làm kinh dị vô cùng. Ông liền đãnh lễ Ngài mà nói rằng: "Hòa thượng quả là một vị Phật tái thế".

Ngài liền khoát tay bảo nhỏ rằng: "Ngươi chớ nói tiết lộ. Ta cùng ngươi ở với nhau đã ba bốn năm nay vốn là có nhân duyên rất lớn rồi đây Ta sẽ từ biệt ngươi mà đi vậy ngươi chớ buồn rầu thương nhớ ".

Ngài nói rồi bèn về nhà ông Ma Ha cư sĩ mà hỏi rằng: "Ý ngươi có muốn giàu sang hay không?"

Ông Ma Ha cư sĩ thưa rằng: "Sự giàu sang như lùm mây nổi như giấc chiêm bao có cái gì là bền lâu chắc chắn đâu nên tôi nguyện làm sao cho con cháu tôi đời đời được miên viễn mà thôi".

Ngài bèn lấy cái túi của Ngài thọc tay vào móc ra một cái túi nhỏ một cái hộp và một sợi dây liền đưa cho ông Ma Ha cư sĩ mà nói rằng: "Ta cho ngươi mấy vật này mà từ biệt. Song Ta căn dặn ngươi phải giữ gìn cho kỹ càng mà làm biểu tín những việc hậu vận của nhà ngươi".

Ông Ma Ha cư sĩ vâng lãnh mấy món ấy mà chẳng rõ được là ý gì. Cách vài bữa sau Ngài trở lại nhà ông mà hỏi rằng: "Nhà ngươi có hiểu được ý Ta hay không?"

 Ông thưa rằng: "Thưa Ngài! Đệ tử thiệt chẳng rõ".

Ngài nói rằng: "Đó là Ta muốn con cháu nhà ngươi ngày sau cũng như mấy vật của Ta cho đó vậy".
Nói rồi Ngài bèn từ giã mà đi liền.

Đến sau quả nhiên con cháu của ông Ma Ha cư sĩ được vinh hoa phú quý hưởng lộc nước đời đời. Đó là mấy vật của Ngài cho có hiệu nghiệm như vậy.

Nhằm ngày mùng ba tháng ba năm thứ ba niên hiệu Trịnh Minh Ngài không tật bệnh gì cả ngồi trên bàn thạch gần nơi mái chùa Nhạc Lâm mà nhập diệt.

Nhắc lại khi Ngài chưa nhập diệt có ông Trấn Đình Trưởng thấy Ngài hay khôi hài không lo sự gì cả nên mỗi lần gặp Ngài thì buông lời cấu nhục rồi giựt cái túi vải mà đốt.

Hễ bửa nay đốt rồi thì qua ngày sau ông Trấn Đình Trưởng cũng thấy Ngài mang cái túi ấy như cũ. Ông nổi giận đốt cháy rụi luôn đến ba lần cũng vẫn thấy Ngài còn mang còn mang cái túi vải đó.

Từ đó về sau ông Trấn Đình Trưởng lấy làm lạ nên đem lòng khâm phục Ngài không dám khinh dễ nữa.

Khi Ngài nhập diệt thì ông Trấn Đình Trưởng lo mua quan quách mà tẩn liệm thi hài là cố ý chuộc tội lỗi của ông ngày trước. Nhưng đến chừng đi chôn thì người khiêng rất đông mà cứ cái quan tài lên không nổi.

Trong bọn ấy có một người họ Đồng ngày thường tỏ lòng tôn kính Ngài một cách rất trọng hậu nên thấy việc linh hiển như vậy liền vội vã mua cái quan tài khác rồi liệm thi hài của Ngài lại. Đến khi khiêng đi thì số người cũng bấy nhiêu đó mà khiêng nhẹ phơi phới như bông. Ai nấy thấy vậy cũng đều kinh sợ và cung kính.

Lúc đó các người trong quận thiết lập ra một hội rất lớn xây tháp cho Ngài ở nơi núi Phong Sơn. Núi ấy toàn là đá lởm chởm hòn cao hòn thấp trong mấy hang đá đều là chỗ di tích của Ngài còn lưu truyền lại nào là chỗ để tích trượng nào là chỗ để bình bát v.v..

Những chỗ sâu chỗ cạn chỗ lớn chỗ nhỏ hình tượng giống như cái bình bát đều có nước đầy hoài dẫu cho Trời đại hạn đi nữa thì cũng chẳng có lúc nào khô kiệt.

Thiệt là nhiều việc anh linh hiển hách vô cùng!

                                                    Sưu tầm

More...